Vô cùng thương tiếc đồng chí Lê Quang Đạo

Đồng chí Lê Quang Đạo, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đã từ trần lúc 14h25’ ngày 24/7/1999 tại Hà Nội sau một thời gian lâm bệnh nặng.
Đồng chí Lê Quang Đạo (tên khai sinh là Nguyễn Nguyện) sinh ngày 8/8/1921 trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước ở xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 17 tuổi, đồng chí đã tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào Thanh niên dân chủ, Thanh niên phản đế Đông Dương và được kết nạp Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940.
Trong hơn 60 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Lê Quang Đạo đã đóng góp nhiều công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam và từng giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Bí thư Trung ương Đảng; Chủ tịch Quốc hội; Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam….Từ tháng 8/1994 đến nay, đồng chí giữ chức vụ Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Do công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, đồng chí Lê Quang Đạo đã được Đảng, Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác.
Ban chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quyết định tổ chức tang lễ đồng chí Lê Quang Đạo theo nghi thức quốc tang.
Sáng 28/7/1999 lễ viếng đồng chí Lê Quang Đạo đã được tổ chức tại nhà tang lễ Bộ Quốc Phòng (số 5 – Trần Thánh Tông, Hà Nội). Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhiều bộ, ngành, địa phương (trong đó có Đoàn đại biểu của Tổng cục Du lịch Việt Nam do Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng làm trưởng đoàn) đã đến viếng đồng chí Lê Quang Đạo.
Hồi 16h ngày 28/7/1999 lễ truy điệu và tiếp đó là lễ an táng đồng chí Lê Quang Đạo đã được cử hành trọng thể tại Hà Nội. Cùng thời gian này, tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bắc Ninh đã diễn ra lễ truy điệu đồng chí Lê Quang Đạo.
Sự kiện tuần qua
Các hoạt động chào mừng kỷ niệm 70 năm Công đoàn Việt Nam (1929-1999) đã diễn ra sôi nổi khắp cả nước. Sáng 28/7/1999 tại Hà Nội đã tổ chức mít tinh trọng thể ôn lại truyền thống 70 năm vẻ vang của Công đoàn Việt Nam.
Kỷ niệm 52 năm ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/1999), tại các địa phương trên cả nước đã diễn ra các hoạt động sôi nổi: thăm và tặng quà các đối tượng chính sách, phát động ủng hộ quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, biểu dương các đơn vị tập thể, cá nhân làm tốt công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, tổ chức học tập giáo dục truyền thống….Nhân dịp này Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã gửi thư cho các thương binh, bệnh binh và gia đình liệt sĩ.
Ngày 23/7, Hội đồng thi đua khen thưởng Trung ương mở hội nghị thi đua khen thưởng toàn quốc nhằm kiểm điểm, đánh giá công tác thi đua khen thưởng năm 1998; đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong thời gian tới. Thủ tướng Phan Văn Khải đã đọc lời khai mạc chủ trì Hội nghị.
Ngày 23/7, tại Singapore đã khai mạc Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao các nước ASEAN lần thứ 32. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao nước ta Nguyễn Mạnh Cẩm dự Hội nghị và đã phát biểu ý kiến. Hội nghị đã ra tuyên bố chung khẳng định lại cam kết cùng phấn đấu để vượt qua các thách thức.
P.V – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 31(83)1999

Thố Hà – xưa và nay

Ấn tượng đầu tiên với Thố Hà là vòm cổng làng rêu phong nép mình bên gốc đa cổ thụ. Hai bên đường vào làng, nhà xây san sát trả dài, khiến con đường lát gạch trở nên hun hút. Gió sông Cầu thổi hất lên hơi se lạnh, tôi có cảm giác nao nao khi đứng trên vùng đất có những sản phẩm thủ công nổi tiếng…
Nghề gốm một thuở
Nghề gốm Thố Hà nổi tiếng từ hàng bao thế kỷ nay. Trong đình làng, cụ Nguyễn Đình Oánh, một lão làng uyên thâm về Nho học chỉ tay chiếc vại gốm cực lớn giảng giải cho tôi: “Chiếc vại này đã hơn 300 tuổi rồi, nó được làm sau khi đình làng được dựng xong”. Cụ Oánh đã dày công tỷ mỷ sao từng văn chỉ, bia đá, dịch từng sắc phong với mong muốn con cháu đời sau hiểu rõ công lao của ông cha từ thủa lập làng. Người dân Thố Hà giàu có nghề gốm nên xây dựng được đình làng lớn và đẹp nổi tiếng cả vùng. Văn bia nêu rõ: “Người làng không kể gái trai đều phải đóng góp một quan tiền và hai trăm bát gạo”. Đá tạc bia, đá tảng kê chân cột và 24 cột lớn làm đình đều mua từ Thanh Hóa ra. Trước đình có treo bức đại tự sơn son thiếp vàng do triều Nguyễn ban tặng với bốn chữ Mỹ tục khả phong. Cụ Oánh cho biết: việc cưới xin ở Thố Hà không có tục nộp theo cho làng, việc ma chay gia chủ không phải lo làm cỗ thết làng, nên tiết kiệm được nhiều tiền của. Cụ Oánh đưa ra một giả thiết khá lý thú là thổ là đất hà là sông nước, đất và nước là nguyên liệu không thể thiếu trong nghề gốm. Có lẽ tên làng Thổ Hà ra đời từ đó. Các bia đá và văn chỉ ở làng cũng không nói rõ tên làng có tự bao giờ. Tuy nghề gốm nay đã bị mai một song cái tên mộc mạc ấy vẫn nhắc nhở chúng ta nhớ lại một mảnh đất văn vật xa xưa.
Cổ truyền trong hiện đại.
Về Thố Hà bây giờ ai cũng nhận thấy sự cực thịnh của nghề làm bánh đa nem. Vào thăm nhiều gia đình, tôi đều thấy tấp nập các công đoạn xay bột, tráng bánh, phơi bánh, gỡ bánh khô xếp vào buộc thành từng tệp, đóng bao theo đúng tiêu chuẩn ISO Thố Hà chờ bạn hàng đến lấy. Bây giờ chuyện bánh đa nem Thố Hà tập kết ở sân bay quốc tế Nội Bài chờ đi Tây chẳng còn là chuyện lạ. Bác Trịnh Quang Sơn, cho biết: “Tính hết chi phí thì tiền công của mỗi lao động sẽ thu về khoảng 12 nghìn đồng cho một ngày. Ngoài ra phụ phẩm của nghề này còn tận dụng vào việc chăn nuôi”. Thố Hà là một trong những cái đinh về phong trào chăn nuôi lợn của tỉnh Bắc Giang. Những cú trư, hiền lành ủn ỉn ngay ở đường làng, hay lim dim trong các dãy chuồng dài dọc trên bờ sông trở thành một cảnh khá vui mắt. Hình như các chú đại bạch, lang hồng lúc nào cũng trong trạng thái phê phê vì liên tục xơi bã rượu. Buổi tối, tôi theo chân mấy cậu thanh niên rủ nhau đi học hát quan họ văn hóa karaoke chưa hút hồn được trai làng Thố Hà. Đến điểm tập có hơn 20 thanh niên nam nữ khác đang đợi sẵn ở đó. Thầy Cát Trọng Đạo hơn 30 tuổi là liền anh lớp trên có trách nhiệm đào tạo lớp quan họ kế cận. Lần đầu tiên tôi được nghe quan họ tại làng, tiếng sáo, tiếng đàn vang lên quên với tiếng những lời quan họ cổ mới lịch thiệp làm sao! Anh Đạo kể, giọng tự hào: Thố Hà là một trong 49 làng quan họ cổ của tỉnh Hà Bắc cũ. Ở các hội thi những làng quan họ trước kia, bao giờ quan họ Thố Hà cùng giành giải cao. Gần nửa đêm, câu hát giao duyên “Người ơi buông áo em ra” vẫn còn dùng dằng lưu luyến lắm. Hơn 12 giờ đêm, đám quan họ mới giã bạn. Anh Đạo và mấy thanh niên rủ tôi: “Hai mốt tháng giêng là hội quan họ của làng, mời anh lên dự. Ngày rộng tháng dài, chúng ta sẽ cùng liền anh, liền chị du xuân bằng thuyền trên sông Cầu”. Vâng tôi và du khách đều nhớ: hai mốt tháng giêng, quan họ đến hẹn lại lên. Nhớ cả lời hẹn thả hồn theo câu quan họ trên sông nước ngày xuân.
Nguyễn Phúc – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Tình hình đầu tư vào ngành Du lịch Việt Nam

Thực hiện chính sách mở cửa của nền kinh tế, đồng thời để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và làm phong phú các sản phẩm du lịch, nhiều năm nay, Tổng cục Du lịch đã coi trọng công tác đầu tư, nhằm xây dựng nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, kêu gọi vốn đầu tư của người nước ngoài tham gia đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Tính đến hết quý II năm 2000, có 324 dự án đầu tư nước ngoài vào ngành Du lịch với tổng số vốn đầu tư là 9,385 tỷ đô la Mỹ. Tuy nhiên, cho đến nay đã có 70 dự án bị rút giấy phép. Hiện chỉ có 254 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn đầu tư là 7,793 tỷ đô la Mỹ. Những dự án này chủ yếu vào lĩnh vực xây dựng khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê, sân golf, kinh doanh lữ hành và các dịch vụ khác. Riêng các thành phần kinh tế trong nước thường đầu tư vào các lĩnh vực xây dựng cải tạo nâng cấp các công trình vừa và nhỏ, các khu vui chơi giải trí, các câu lạc bộ văn hóa như bowling, sân golf, tennis… chủ yếu phân bổ trong các thành phố và các tỉnh lân cận. Nhiều doanh nghiệp khi đầu tư còn làm thêm chức năng kinh doanh, khai thác các công trình phục vụ du khách như công viên nước suối Tiên, Đầm Sen – Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Tây – Hà Nội, Khoang Xanh – Hà Tây, khu du lịch sinh thái Cần giờ – Thành phố Hồ Chí Minh, Mỹ An, Lăng Cô, Bạch Mã – Huế, Núi Bà – Tây Ninh, và nhiều khu vui chơi giải trí ở địa phương như Nghệ An, Khánh Hòa, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình, Quảng Nam, Quảng Bình, Đồng Nai, Bình Dương… Ngoài ra, các dự án còn đầu tư để nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các cơ sở lưu trú các dịch vụ bổ trợ, phục vụ khách, nâng công suất sử dụng phòng đưa lại hiệu quả trong kinh doanh khách sạn. Song song với việc Nhà nước xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không, các doanh nghiệp du lịch đầu tư mua sắm trang bị thêm nhiều phương tiện vận chuyển khách du lịch, nhất là xây dựng các đội tàu thuyền, tàu thủy cánh ngầm cao tốc ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang, Cần Thơ, Hải Phong, Quảng Ninh… góp phần nâng cao năng lực vận chuyển hành khách. Đầu tư mở rộng thêm nhiều tuyến tuor du lịch mới: trên sông, trên vịnh, trên núi, vùng sinh thái đồng quê ở hầu hết các địa phương có tiềm năng, ở các vùng lũ lụt tập trung vốn đầu tư khôi phục sửa chữa nâng cấp các di tích danh lam thắng cảnh, các khu du lịch, các cơ sở vật chất du lịch bị hư hại, xuống cấp nhanh chóng, đưa mọi hoạt động đưa đón khách trở lại bình thường. Nhìn chung công tác đầu tư đã góp phần thúc đẩy mạnh mẽ tốc độ phát triển của ngành Du lịch trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, về lâu dài, công tác đầu tư cần hướng vào xây dựng các khu du lịch có tầm cỡ quốc tế, xây dựng các dự án tiền khả thi. Có kế hoạch đầu tư nơi có cơ sở hạ tầng tốt, có cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo ra các sản phẩm du lịch, đồng bộ có chất lượng tốt. Huy động vốn đầu tư tôn tạo các khu du lịch hiện có và đã được quy hoạch như Hồ Tây – Hà Nội, Chùa Hương – Hà Tây, Tam Cốc – Bích Động tỉnh Ninh Bình, Kim Liên – Nghệ An, Hội An – Quảng Nam, Tuyền Lâm – Đà Lạt, Long Hải – Vũng Tàu, Thới Sơn – Tiền Giang, phấn đấu đến cuối năm 2005 có thể đưa vào sử dụng một số khu du lịch này.
Nguyễn Tú – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.

Di tích Bác Hồ ở Pari

Năm 1975 sau khi sang Pháp về nhà kiến trúc quá cố Tạ Mỹ Duật có đưa tôi xem bức họa về “Nhà 19 ngõ Công Poanh” kèm một số bản vẽ thiết kế ngôi nhà này bằng con mắt kiến trúc, tác giả ghi lại khá kỹ bộ mặt ngôi nhà 19, vẽ từ cổng dẫn lối vào lên các căn buồng, chép cẩn thận từng chi tiết cầu thang, chấn song, con tiện, đo đạt mặt bằng cả kiến trúc căn buồng… Anh ghi chép thế này hẳn có mục đích về chuyên môn? Tôi hỏi. Có chứ kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật trả lời. Tôi muốn dựng lại mô hình căn buồng 19 ngõ Công Poanh cho bảo tàng Hồ Chí Minh… Cách vẽ nghề nghiệp này chắc mất nhiều thời gian? Khoảng hơn một tháng sau khi tôi tới Pháp… Thế lấy đâu ra điều kiện làm việc? Tôi với bên ấy không ngại gì hết chỉ chốt làm sao làm việc cho trót lọt. Tại sao phải trót lại. Quan trọng lắm, mình muốn làm việc được yên ổn nhưng có số người hay đến quấy rầy như muốn ngăn trở việc làm! Còn sự giúp đỡ? Nhiều chứ không có bà con Việt Kiều, cụ coi nhà bà cụ chủ nhà giúp đỡ thì khó mà làm xong việc. Tôi đã giới thiệu bức tranh và bài viết nói về ngôi nhà 19 ngõ Công Poanh trên báo Hà Nội mới vào tháng 10 năm 1975 và không khỏi ước nguyện có một ngày sẽ được tới đây… Năm 1997 ước nguyện ấy đã thành sự thật. Tôi được sang Pháp thăm một gia đình người quen thế là tôi đến thăm ngôi Nhà 19 ngõ Công Poanh! Sẵn có ý niệm về bản vẽ và nội dung vấn đề do cố kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật truyền đạt ngay sau khi ông về nước, lòng tôi tràn ngập xúc động khi bước chân tới ngôi Nhà 19 ngõ Công Poanh vì ngôi nhà chưa được sửa lại. Đây là lối ngõ vào nhà với bức tường còn nguyên vẹn rêu phong, đây là cầu thang dẫn lên buồng với con tiện, này đây là căn buồng với chiếc giường nhỏ còn nguyên đẹp, ga, kê gần chiếc bàn làm việc, đây là chén tách đồ dùng làm việc đơn sơ và càng cảm động khi thấy viên gạch Bác thường nướng cho nóng sưởi vào ban đêm vẫn còn xếp ở phía chân tường, mãi đến năm 1930 ngôi nhà mới có điện. Gần phía cửa sau và vòi nước là bồn rửa tay. Tôi lặng người ngây ngất trước những kỷ vật của Người. Bà con ta đến thăm viếng nơi đây rất yên lặng, không một tiếng động nào ảnh hưởng tới việc chiêm ngưỡng. Tôi để ý đến thấy số người đến đây đi từng tốp nhỏ như ông bà dắt cháu, con gái theo bố mẹ, người mới đến Pháp đều có bà con Việt kiều hướng dẫn. Cũng có bà con ở các tỉnh xa Pa ri rủ nhau về thăm viếng ngôi Nhà 19 ngõ Công Poanh. Ngôi nhà được xây từ thế kỷ thứ 19, người ta vừa sửa chữa lại, có thay đổi phần kiến trúc bên trong và căn buồng nhỏ Bác Hồ ở tầng 3 mỗi chiều 3 mét này nhìn xuống ngõ cũng thay đổi ít nhiều song vị trí vẫn nguyên vẹn. Hôm làm lễ khai trương lại di tích có đông đủ đại diện trong nước ta tại Pháp cùng bà con Việt kiều đã tới dự với sự chứng kiến của các nhà chức trách Pháp cùng những bạn có cảm tình với Việt Nam. Bà Ma đơ len Ri phô gần 80 tuổi. Một người bạn am hiểu và có cảm tình với ta qua hai cuộc kháng chiến đã gợi lại những kỷ niệm sâu sắc những lần gặp Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc và tại Hà Nội. Cụ chủ nhà cũ Hăng ri Phra lanh nhắc lại thời gian của Nguyễn Ái Quốc ở căn buồng này, bà Giam mô không quên kể lai lịch ngôi nhà được một người phương Đông đến thuê và sau này làm nên lịch sử sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Một ông thuyền trưởng già cảm động kể lại chuyện chiếc tàu biển Đô đốc la tút sơ Trê vin từ Sài Gòn cập bến cảng Đa răng Mác xây hơn 60 năm trước đã chở anh Ba vào năm 1911 lần đầu tiên tới đất Pháp. Trong giây phút cảm xúc bà Ma đơ len Ri phô nêu lên “Sao các bạn không đặt một bát hương ở chân biển di tích kia để mỗi ai đến thăm viếng nơi đây đều được thấp một nén hương tưởng nhớ theo tục lệ Việt Nam. Thật là tình cảm sâu rộng bốn phương đối với Bác Hồ. Trên đất Pháp người ta ghi lại kỷ niệm đối với những nhân vật quốc gia và quốc tế bằng cách làm của họ. Mới đây người ta tái bản ở Pháp cuốn “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc viết năm 1920, đã đưa hình ảnh Bác Hồ vào bức tranh hoành tráng “Các nhân vật của thế kỷ 20” tại đại lộ Federation bên bờ sông Xen và giờ đây bày biện lại căn buồng 19 ngõ Công Poanh những kỷ vật đưa về từ viện bảo tàng Mông tơ rơi gần Pa ri sau khi xây dựng lại ngôi nhà này để ghi nhớ những năm tháng hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại Pháp.
Khánh Phú-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(133)2000.

25 xác chết và 4 ngôi nhà số 25

Bởi mọi người dân Anh đều biết ngôi nhà số 25 phố Cromwell Gloucester là “địa chỉ chết chóc” nên cảnh sát quyết định gỡ tấm biển phố vì sợ người tham biến nó thành thương phẩm. Cảnh sát Anh đã điều tra và khai quật tất cả 9 xác chết trong ngôi nhà này, đều là phụ nữ còn rất trẻ. Chủ nhân nơi đây là Friddle West, 52 tuổi, làm nghề xây dựng. Hàng xóm và đồng nghiệp không thể ngờ tên thợ xây có bộ mặt hiền hậu ấy lại là kẻ giết người không ghê tay mà phần lớn nạn nhân lại là vợ, con gái và có thể cả mẹ hắn. Tổng cộng hắn đã giết 25 phụ nữ (có người đang mang thai) ở 4 ngôi nhà khác nhau nhưng đều mang số 25, đó là: 25 Savoy Street (Glasgow), 25 Bishop’s Cleeve (Cheltenham), 25 Midland Road, 25 Cromwell Street (Gloucester).
Năm 1972, Fred West cùng cô vợ thứ hai dọn đến ngôi nhà 25 phố Cromwell và liên tục cải tạo cơi nới, ai cũng tưởng hắn đông con cần mở rộng diện tích, nào ngờ tên cuồng sát quy hoạch mang mục đích chôn giấu những người bị hắn giết hại. Hắn là ai vậy ? Đó là con quỷ dữ đội lốt người, chỉ có mỗi ham muốn hãm hiếp và giết chóc. Trước kia hắn ở trong một nghĩa địa nhỏ thuộc làng Much Marcle cách Cromwell 24 km. Trên một tấm bia mộ nơi ấy người ta còn đọc được hàng chữ “Daisy Hannah West” tên của mẹ hắn, mất ngày 6/2/1968, năm bà 44 tuổi, bà có 3 con, hắn là cả. Tính rụt rè và những lọn tóc màu mận chín gợn sóng hồi nhỏ của hắn là niềm kiêu hãnh của bà Daisy.
Mẹ chết năm West 27 tuổi, nhưng trước đó – năm 1962, hắn đã lấy Catherine Castello tức Rena người xứ Ecosse. Hắn công khai với mọi người rằng vợ hắn vốn là gái điếm, tuy lấy hắn những vẫn tiếp tục bán dâm….thế rồi năm 1969 bỗng Rena biến khỏi chỗ ở, West nói cô ta trở về Ecosse !
Sau đó, West dọn đến ngôi nhà tạm, sống với hai con gái là Charmaine và Anna ở Bishop’s Cleeve gần Much Marcle. Cũng chính năm Rena biệt tích, West lấy ngay một cô gái quê 15 tuổi, tên là Rosemary Lett, tháng 10/1970 cô đẻ con gái đầu lòng, đó là bé Heather West.
Cũng như phần lớn những tên giết người khác, West làm rất nhiều nghề. Khi Rena còn ở nhà, hắn buôn kính cửa, tranh ảnh đem bán tận Ecosse rồi chuyển sang lái xe chở hàng, một nghề rất hấp dẫn đối với những kẻ có máu giết người. Tuy nhiên, đầu năm 60 hắn từ bỏ cuộc sống lang thang, quay về tầng 2 Gloucester làm nghề xây dựng. Tội ác của hắn đã “thăng hoa” trong ngôi nhà này. Cuối năm 1972 cả nhà West rời khỏi 25 Midland Road, dọn về 25 Cromwell cách đó 800 mét.
West rất đông con, cảnh sát thú nhận là họ không nắm chính xác hắn có bao nhiêu đứa, có thể là 8,10,12, cũng có thể là….25 ! Chỉ biết riêng Rosy đã sinh nở tới 8 lần, nhưng chắc chắn chỉ có Tara, Rosemary và Lucyanna là con hắn. Cái bầu đoàn thê tử rất nhốn nháo ấy tuy được sống no đủ nhưng nhất nhất phải tuân theo những quy định nghiêm khắc như trẻ con chỉ được loanh quanh tầng trệt, tầng hầm, không được phép tự ý ra vào hoặc đến phòng khác; tầng 2 là chỗ vợ chồng West. Nhà chia làm nhiều ô, mỗi ô là một tiểu vũ trụ, liên lạc bằng chuông điện, 1 chuông dành riêng cho khách làng chơi tìm đến Rosy, vì mỗi đêm cô phải tiếp ít nhất 4 khách. Rosy tuyên bố là cô chỉ thích tiếp bọn đực rựa da đen và những hạng đàn ông cặn bã; cô luôn đăng quảng cáo trên một tờ lá cải bằng tên giả nghe rất kêu là “Mandy Mouse”. West thường đứng ở quầy đãi rượu khách và hướng dẫn họ lên phòng vợ với giá thỏa thuận 40 livres (tương đương 340 frans) một lần. Căn phòng của cô được gắn nhiều tấm gương lớn và đặt máy chiếu phim con heo….
Từ việc chủ nhân ngôi nhà bên cạnh tình cờ đào thấy sọ người, điện cho nhà chức trách, lập tức cảnh sát ra tay, và cái xác đầu tiên được phát hiện lại chính là cái xác cô Heather West, con gái hắn mà năm 1987 hắn vẫn lu loa cô bé mất tích ! Cùng chỗ ấy phát hiện thêm hai xác nữa đều bị chết do bóp cổ (phần lớn bọn cuồng sát thích cảm giác nạn nhân giẫy chết trong tay chúng), đó là xác cô Shirley Robinson người thuê nhà, bị mất tích khi đang mang thai 7 tháng do West hiếp. Quanh chân móng khu hầm ngầm nơi ngủ của con cái West – tìm thấy năm thi hài khác, xác thứ chín được xây bao, chôn sâu dưới lòng nhà tắm…
Cảnh sát mở rộng điều tra sang nhà 25 Midland Road, lòng nhà tạm ở Bishop’s Cleeve và khu vực cánh đồng Much Marcle đã tìm thấy xác Rena và con gái là Charmaine; ngoài ra còn tìm thấy thi hài cô bé Mary Bastholm 15 tuổi, tiếp viên của quán Pop-in cafe, Mary đột nhiên mất tích tháng 2/1968 chỉ vài ngày sau cái chết bí mật của mẹ West. Kết quả khai quật đã đưa con số nạn nhân bị West giết hại lên đúng 25 người. Tổng hợp mọi tình tiết trong quá trình điều tra, nhà chức trách đặt dấu hỏi về cái chết của bà Daisy – mẹ hắn, vì đó là người đàn bà còn trẻ khỏe, vô bệnh tật, và nhà chức trách ước đoán có nhiều khả năng bà cũng làm một trong số nạn nhân của chính thằng con khát máu này. Người dân Anh cho rằng đây là trường hợp hi hữu ở thế kỷ 20, và tất nhiên tên sát nhân ghê tởm này phải đền tội xứng đáng.
(Theo Prisonnière des fantas-mes de son mari, Rena est la première sacrifiée d’une longue série của tác giả Michel Peyrard – Paris Match).
Trần Xuân – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 30(82)1999

Nơi Greta Garbo mai táng thành địa chỉ du lịch

Nữ diễn viên điện ảnh Greta Garbo chết đã chín năm nay, nhưng con người vốn được ngưỡng mộ như “thiên thần” này vẫn được người đời hết sức tôn vinh và ngay địa điểm chôn cất bà cũng trở thành đề tài được nhiều nước đề cập tới. Nắm tro hài cốt của bà trộn với đất mùn sẽ được rải trên một mảnh đất rộng chừng 200 mét vuông dưới những hàng cây thông quanh năm xanh tốt ở nghĩa trang thành phố Stock-holm. Mảnh đất này nổi hẳn lên và người ta phải leo bảy bậc mới tới nơi và người ta có cảm giác nơi này như một đài chiến thắng. Nơi đây có hai chiếc ghế băng dành cho những người hâm mộ tới viếng thăm bà. Không biết Greta Garbo có thấy vinh hạnh khi được ở lại vĩnh viễn nơi này ? Lúc sinh thời bà đã từng nói “Suốt đời tôi luôn là một biểu tượng. Tôi chán điều đó lắm rồi, tôi chỉ muốn được làm một người bình thường”. Năm 1934, Greta Garbo đã nói điều đó khi bà thủ vai “Nữ hoàng Christina” nhưng sau này người ta mới ngẫm bà nói câu đó cũng là để giải bày nỗi lòng mình.
Tên cúng cơm của Garbo là Greta Lovi Gustafson. Sau khi tham gia đóng 24 bộ phim tên tuổi bà nổi như cồn nhưng bà lại cảm thấy quá mệt mỏi về sự nổi danh của mình vì thế bà đã giã từ Hollywood ở tuổi 37 gây xôn xao, bất ngờ cho giới hâm mộ. Cho tới khi mất, ngày 15/4/1990, bà sống như một người ở ẩn trong một ngôi nhà ở Mahat-tan. Do luôn bị săn đuổi, nhòm ngó nên mỗi khi đi đâu bà đều đăng ký trong các khách sạn dưới cái tên “Harriette Brown”. Khi bà mất, người ta đã hỏa thiêu và di hài của bà được để tại một cơ sở mai táng ở New York. Ngay sau khi đã chết Garbo vẫn phải chạy trốn và gần mười năm sau khi qua đời bà mới được trở về quê hương xứ sở của mình.
Bà sinh năm 1905 tại ngôi nhà số 24 phố Soedermalm, một khu phố của những người nghèo nhất ở Stockholm xưa kia. Bà đã thoát cảnh nghèo khổ nhờ tham gia đoàn kịch Hoàng gia và từ đây bà sang Hollywood. Bà từng đóng vai những người phụ nữ có cá tính mạnh mẽ như “Marta Hari” hoặc “Ninotschka”. Bà đã chung sống với nhiều người đàn ông trong nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng không có chồng, như bà từng than thở “chẳng ai buồn lấy tôi vì tôi không biết nấu nướng”. Sau này bà trở thành công dân Hoa Kỳ và thường xuyên là đối tượng của các tay săn ảnh. Một tay săn ảnh nữ tên là Mercedes de Acosta, từng là bạn gái lâu năm của bà, đã công bố một bức ảnh khỏa thân của bà trên báo chí, từ đó Garbo đã đoạn tuyệt với cô bạn này. Năm 1942, sau khi rời thế giới điện ảnh, bà đã từng tuyên bố: “Tôi không muốn sống cô độc nhưng tôi không muốn bị phiền nhiều”. Nhưng ngay cả sau khi qua đời bà cũng không thực sự được yên thân. Người thừa kế duy nhất của bà là cô cháu gái Gray Reisfield, cô cũng là người được Garbo hết sức tin cậy. Giờ đây đến lượt cô cháu gái bị “săn đuổi”. Cô nhận được những lời đề nghị từ Thụy Sỹ, Đức, Anh, Pháp và Hoa Kỳ về việc được quyền mai táng bà. Thụy Điển cũng có tên trong số đó. Người Thụy Điển đã dựa vào một lời phát biểu của bà khi bà về thăm nước này lần cuối cùng năm 1975: “Đến một lúc nào đó, tôi sẽ trở lại nơi này”. Bản thân bà Reisfield trong chín năm qua cũng cân nhắc về nơi an nghỉ cuối cùng của Garbo, nhưng bà không muốn làm cho chuyện này to tát ầm ĩ, bà không muốn xảy ra những chuyện rắc rối như vụ lấy trộm hài cốt Charles Chaplin năm 1978. Tháng năm vừa qua bà đã quyết định chọn Stockholm làm nơi an nghỉ cuối cùng cho Greta Garbo. Ngành du lịch Thụy Điển đặc biệt vui mừng về quyết định này. Cho tới nay không ít khách du lịch đến Thụy Điển đều muốn biết về những gì liên quan đến con người một thời lừng danh này.
Buổi lễ mai táng bà tại quê nhà chỉ có sự hiện diện của hai mươi khách mời đặc biệt và được truyền hình trực tiếp. Những người hâm mô đã cho dựng một ngôi tượng bán thân của bà ngay gần ngôi nhà nơi bà đã ra đời.
Người dân Stockholm tin rằng nghĩa trang, nơi Greta Garbo an nghỉ, sẽ trở thành một địa chỉ hành hương và thu hút đông đảo khách du lịch.
Thu Trang – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Vì nhân phẩm trẻ em

Ở Guatemala, quốc gia Trung Mỹ có khoảng chừng 4000 trẻ em và thiếu niên lao vào tệ nạn mại dâm có cả trường hợp trẻ bị mang hoang thai hay bị nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục hoặc sử dụng ma túy. Bà Anne Pascal, Chủ tịch Hội Les Trois-Quarts du Monde được thành lập năm 1990 đã phấn đấu để tiếp nhận trở lại những trẻ em lang thang này. Bà cũng là người thực hiện chương trình các phim tài liệu cũng như bảo trợ về mặt tài chính 400.000FF mỗi năm cho 2 Tổ chức Hội thuộc Guatemala là Tổ chức Hội Solo Para mujrers (Vì người phụ nữ) và Tổ chức Hội Celic (Trung tâm phát triển toàn thể cộng đồng).
Bà đã tạo điều kiện cho họ giới thiệu rõ nét hơn các kết quả công trình nhân đạo và từ thiện đã thực hiện. Hội đã xứng đáng với lòng tin của các mạnh thường quân, ân nhân của Hội. Kể từ năm 1991, Tổ chức Hội Solo Para mujrers đã cứu vớt 500 trẻ gái, trẻ thiếu niên sống lang thang trên đường phốt thoát khỏi tệ nạn mại dâm. Và thực tế, đó cũng chỉ mới là bước khởi đầu.
Trung Quốc: Khởi công xây dựng pho tượng phật bằng đồng cao nhất thế giới
Hơn 40.000 người đến từ nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Canada, Australia đã tham dự lễ khởi công xây dựng pho tượng Phật Ksitigarbhab bằng đồng cao nhất thế giới tại đỉnh núi Jiuhua (Cửu Hoa), tỉnh An Huy. Bức tượng này cao 99 mét sẽ hoàn thành trong 3 năm cùng với việc xây dựng một ngôi chùa tại đây trị giá 400 triệu nhân dân tệ. Jiuhua là một trong bốn đỉnh núi chính của Trung Quốc có gắn với những sự tích của Phật giáo và là những điểm thu hút hàng triệu du khách đến thăm mỗi năm.
Đức: tổ chức tuần Châu Á – Thái Bình Dương”
Thủ đô Berlin của Đức sẽ tổ chức “Tuần Châu Á – Thái Bình Dương” từ 27/9 đến 10/10. Trong thời gian này sẽ diễn ra 150 cuộc giao lưu văn hoá, kinh tế nhằm mở rộng quan hệ giữa thủ đô Berlin nói riêng và nước Đức nói chung, với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có hai cuộc giao lưu chuyên về Việt Nam “Tuần Châu Á- Thái Bình Dương” lần thứ nhất tổ chức năm 1997 đã đạt kết quả lớn và là tiền đề để tổ chức thứ hai và có thể sẽ diễn ra thường xuyên hơn trong tương lai.
Ngày di sản ở Liban
Ngày 19/9, lần đầu tiên liban tiến hành “Ngày di sản” (Heritage Days) với việc mở cửa tất cả các viện bảo tàng, các di chỉ khảo cổ, các công trình nổi tiếng của lịch sử để giúp nhân dân hiểu biết thêm về truyền thống và lịch sử của mình. Ngày di sản được tổ chức lần đầu tiên tại Pháp năm 1984 và sau đó trở thành truyền thống của các nước thuộc liên minh châu u (EU). Liban là nước đầu tiên ngoài EU tổ chức ngày hội bổ ích này.
Australia: Tổ chức chương trình “vừa đi du lịch, vừa đi làm”
Chính phủ Australia đang thực hiện nhiều biện pháp nhằm thực hiện chương trình “vừa đi du lịch, vừa đi làm” cho công nhân của mình, đặc biệt cho thanh niên.
Với tên gọi chính thức “Chương trình du lịch làm việc cho thanh niên”, chương trình này cho phép thanh niên Australia làm việc trong một thời hạn cụ thể ở một số nước mà Australia chấp nhận để công nhân của các nước này được hưởng một quy chế tương tự như ở Australia. Hạn tuổi tham gia chương trình này từ 18 đến 26 tuổi lên 18 đến 30 tuổi.
Hiện nay, Australia có thoả thuận trao đổi chương trình “Đi du lịch làm việc” với Anh, Ailen, Hàn Quốc, Hà Lan, Nhật Bản, Malta và Canada.
Mặt khác Australia sẽ không cấp loại thị thực đặc biệt cho phép du khách đi làm nữa. Mục đích chính của luật trên là hạn chế những trường hợp lạm dụng thị thực du lịch để gây xáo trộn hệ lao động Australia.
N.C – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Lũy Thầy – dấu ấn một tài năng quân sự

Đào Duy Từ sinh ra giữa thời hai tập đoàn phong kiến, chúa Trịnh ở ngoài Bắc và chúa Nguyễn ở trong Nam mâu thuẫn nhau quyết liệt. Ông người làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Ông học rộng, có tài hùng biện, giỏi cầm quân, văn võ toàn tài, nhưng lại không được đi thi chỉ vì cha là Đào Bá Hán làm nghề xướng hát.
Luật lệ hà khắc và bất công ấy khiến chí làm trai của Đào Duy Từ không chịu nổi. Năm 1625, nhân lúc chúa Nguyễn có chính sách chiêu hiền đãi sĩ, Đào Duy Từ quyết rời bỏ quê nhà, vào Nam tìm cách thực hiện chí lớn của mình. Đường xá xa xôi, đầu thế kỷ 17, người từ làng lên tới phủ huyện cũng đã là sự kiện, Đào Duy Từ quyết bôn ba dặm trường. Ông vượt qua vùng đất Quảng Bình là địa danh luôn diễn ra những trận quyết chiến giữa quân Đàng trong và Đàng ngoài. Ông qua phủ Thừa Thiên, qua Quảng Nam và vào tận Bình Định đi ở chăn trâu cho một phú gia ở phủ Hoài Nhơn. Mặc dầu phải chịu sự hèn mọn của kẻ làm thuê ông vẫn nuôi khát vọng động trời khuấy nước. Ông coi hành vi này như là ở ẩn chờ thời và đã làm bài thơ “Ngọa long cương” tự ví mình với Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Qua bài thơ, quan Khâm Lý, Trần Đức Hòa biết Từ là người có học, có chí, có tài bèn đem về làm gia sư và gả con gái cho. Rồi nhờ quan Khâm Lý tiến cử Từ được chúa Nguyễn Phúc Nguyên, còn gọi là Sãi Vương gọi vào chầu.. Vừa tới cửa ông thấy Sãi Vương mặc thường phục, áo trắng, dép nâu, ra đón, liền lập tức tần ngần đứng lại. “Nhà chúa đã không coi ta ra gì – Ông nghĩ – Nhà chúa đối xử với ta như kẻ ăn, người ở sai việc trong gia thất”. Nhưng Sãi Vương là người đang cầu tài hiểu ngay thái độ lần khần của Từ. Ông vội quay vào phòng mặc phẩm phục rồi mới trở ra. Từ lập tức quỳ lạy. Buổi tiếp kiến ấy Sãi Vương hỏi điều gì Từ cũng tâu bẩm rành mạch. Nhà chúa khen ngợi và cho sang chức Nha úy, sau được thăng Nội tán và phong tước Lội Khê hầu, khi chết được phong Hoằng Quốc Công.
Năm 1627, Trịnh Tráng sai người mang thư vào đòi Nguyễn Phúc Nguyên phải nộp 30 thớt voi, 30 chiến thuyền và cho con ra chầu vua để làm tin. Yêu sách đó bị bác. Trịnh Tráng tức giận liền đích thân đem quân thủy bộ hùng hậu có vua Lê đi cùng vào đánh. Quân Trịnh lại thua, quân Đàng trong thắng. Nhưng nhà Nguyễn vẫn không yên lòng vì biết mình thế yếu. Tháng 2 năm 1630 Đào Duy Từ vào chầu Sãi Vương và tâu:
-Muốn mưu đồ đại nghiệp bá vương, điểm thiết yếu là chu toàn vạn sự. Không gắng công một chút thì không thể có nhàn hạ lâu dài, không chịu cực nhọc tạm thời thì không có an ninh vĩnh cửu. Thần kính dâng kế hoạch, huy động dân hai trấn, kiến trúc lũy Trường Dục, trên từ núi Thần Đinh, dưới đến nước bàn Hoặc Hải, là nơi điền địa hiểm yếu, lấy đó mà biên phòng, nếu địch xuất hiện thì chẳng làm gì được.
Sãi Vương tán thưởng và cho đó là quốc sách. Sau lũy Trường Dục dài 9km, lần lượt đến lũy Đầu Mâu – còn gọi là lũy Nhật Lệ – lũy Trấn Ninh và lũy Trường Sa, tất cả tạo thành hệ thống đồn lũy mà người đời gọi là Lũy Thầy hay lũy Đào Duy Từ. Sau này đến đời Thiệu Trị, nhà vua đặt tên cho lũy là Định Bắc Trường Thành.
Gần 4 thế kỷ trôi qua. Lũy Thầy bị thời gian bào mòn, bị thiên tai và chiến tranh tàn phá, thời kỳ nay hay thời kỳ khác bị con người lãng quên. Dấu nối giữa quá khứ và hiện tại mờ dần. Nhưng với dấu tích hiếm hoi còn lại cũng giúp chúng ta lật qua lớp thời gian tìm về những di sản lịch sử vô giá mà ông cha để lại.
Tô Đức Chiêu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Tự vay, tự trả

Xung quanh phương án điều chỉnh giá điện, giá cước điện thoại nội hạt và cước bưu chính – Vì sao phải điều chỉnh và vì sao chưa điều chỉnh ?
Từ ngày 1/7/1999 chưa thực hiện việc tăng giá điện, tăng giá cước bưu chính và thay đổi phương thức tính giá thuê bao điện thoại nội hạt.
Việc thực hiện tăng giá sẽ được lui vào một thời điểm thích hợp.
LTS: Thời gian vừa qua trên một số báo đã đưa các thông tin và bình luận xung quanh việc Chính phủ sẽ điều chỉnh giá bán điện, giá cước điện thoại nội hạt và cước bưu chính. Theo đó, thời điểm điều chỉnh giá được dự báo là từ ngày 1/7/1999. Nhiều cán bộ, nhân dân cũng có thư gửi đến các cơ quan có trách nhiệm bày tỏ ý kiến của mình trước những dự kiến này. Tại cuộc họp báo chiều 8/7/1999 tại Hà Nội, thừa lệnh Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng – Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ đã chính thức thông báo ý kiến của Chính phủ về những vấn đề này như sau:
Về vấn đề giá điện:
Từ năm 1994 Nhà nước không sử dụng vốn Ngân sách để đầu tư cho ngành Điện nữa. Thay vào đó, ngành Điện phải “tự vay, tự trả” để đầu tư cho các công trình điện của mình. Trong khi đó yêu cầu về vốn đầu tư của ngành Điện lại rất lớn vì có nhiều công trình cần đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng điện đang tăng rất nhanh. Năm 1998 sản lượng của ngành điện đạt 20,8 tỷ KWh. Dự báo đến năm 2001 phải đạt tới 30,9 tỷ KWh.
Để đạt mức công suất này, ngành Điện cần có số vốn đầu tư rất lớn: năm 1999 cần 14.370 tỷ đồng (trong đó vay nước ngoài gần 9000 tỷ đồng); năm 2000 cần 19.070 tỷ đồng (vay nước ngoài 11.414 tỷ). Nguồn vốn vay nước ngoài trong tổng vốn đầu tư kể trên, ngành điện phải vay từ Chính phủ Nhật Bản, Ngân hàng châu Á (ADB), Ngân hàng thế giới (WB).
Một trong các điều kiện để các đối tác kể trên đồng ý cho vay vốn là yêu cầu mức giá bán điện phải đảm bảo ở mức đủ để cho ngành điện tử đầu tư, tái đầu tư và trả được nợ. Chính phủ Việt Nam đã thảo luận về điều kiện này với các nhà cho vay và đã cam kết là sẽ nâng dần giá điện theo hướng để ngành Điện có thể tự tái đầu tư. Mức điều chỉnh giá điện cũng đã được cam kết: năm 1999 nâng lên 5,2 cent (USD)/1KWh, năm 2000 lên 6,2 cent (USD)/1KWh và năm 2001 lên 7,2 cent (USD)/1KWh.
Sau khi xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và của ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã giao cho các ngành liên quan xây dựng đề án điều chỉnh giá điện. Có 2 phương án được đưa ra song đều đảm bảo các nguyên tắc:
-Không tăng giá đối với 100KWh đầu tiên cho điện tiêu dùng.
-Giữ nguyên giá điện cho nông thôn.
-Tăng nhẹ giá điện đối với một số ngành sản xuất và hành chính sự nghiệp.
Trước khi trình chính thức lên Thủ tướng Chính phủ đề án này đã được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân….tham gia góp ý.
Tuy nhiên như nhiều báo đã phân tích, do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng khu vực, tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm của nước ta còn diễn ra nhiều thử thách, khó khăn khiến nhiều ngành sản xuất bị đình trệ. Một nguyên nhân khác là do các cơ quan của Chính phủ chuẩn bị đề án chưa thật kỹ. Bởi vậy Thủ tướng Chính phủ đã quyết định chưa phê duyệt phương án tăng giá điện. Thời điểm tăng giá sẽ được lui vào một thời điểm thích hợp trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng không để ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân.
II-Về điều chỉnh giá cước bưu chính viễn thông:
Vừa qua, Tổng cục Bưu điện có đề án trình Chính phủ hai nội dung:
-Xin tăng giá cước tem thư dưới 20g từ 400 đồng lên 1000 đồng
-Điều chỉnh phương án tính cước điện thoại nội hạt.
Các cơ quan chức năng của Chính phủ đã thẩm định và đồng ý trình lên Thủ tướng đề nghị này của Tổng cục Bưu điện.
Về nguyên tắc, việc quy định giá cước chuẩn của tem thư dưới 20g là thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Tổng cục Bưu điện căn cứ vào cước chuẩn này quy định cước cho các loại thư khác, cũng như cước bưu phẩm hàng hóa. Năm 1993 thủ tướng Chính phủ đã quyết định cước tem thư dưới 20g là 400 đồng. Từ đó đến này, Tổng cục Bưu điện đã nhiều lần xin phép Chính phủ cho tăng cước tem thư và gần đây nhất là đề án xin được cho tăng từ 1/7/1999.
Tuy nhiên qua phản ánh trên báo chí, dư luận xã hội trong đó đặc biệt là các cán bộ về hưu, sinh viên, người dân nông thôn….đều cho rằng việc tăng giá là bất hợp lý. Vì vậy Thủ tướng đã quyết định chưa cho tăng giá cước tem thư.
Đối với cước thuê bao điện thoại nội hạt, theo phân cấp hiện hành, việc quyết định mức giá là thuộc thẩm quyền của Tổng cục Bưu điện. Đề án của Tổng cục Bưu điện xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc thay cách tính cước thuê bao từ hình thức khoán 68.000 đ/tháng cả thuê bao và cước 450 phút đầu sang hình thức tách cước thuê bao là 27.000đ/tháng (chưa có thuế Giá trị gia tăng) và gọi phút nào trả tiền phút ấy. Theo tính toán của một số chuyên gia, trên thực tế cách thay đổi này không làm giảm mà lại làm tăng cước thuê bao điện thoại. Vì vậy Thủ tướng cũng quyết định chưa cho phép thực hiện đề án này.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Thực hiện chương trình hành động quốc gia CT6 “Cần hình thành những doanh nghiệp du lịch mạnh” – Phần 2

Nhận thức được tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, những năm gần đây, Chính phủ đã cho thành lập một số doanh nghiệp theo mô hình Tổng công ty 91; đồng thời ủy quyền cho các bộ, ngành, địa phương quyết định thành lập các Tổng công ty 90. Đến nay, cả nước đã có 17 Tổng công ty 91 và 75 Tổng công ty 90, trong đó có Tổng công ty Du lịch Sài Gòn. Đây là những doanh nghiệp lớn và vừa, bao gồm khoảng trên 2000 các doanh nghiệp thành viên, chiếm trên 1/3 tổng số doanh nghiệp nhà nước hiện có và chiếm khoảng 72% tổng số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước. Sự có mặt của Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) nói riêng và các Tổng công ty nói chung biểu hiện sự quyết tâm sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới, đồng thời cũng là một minh chứng cho tính cần thiết khách quan phải hình thành một số hoặc một Tổng công ty Du lịch của Việt Nam, tùy theo yêu cầu của việc tích tụ và tập trung vốn để đảm bảo nhu cầu thị trường trong thành phố lớn, vùng, khu vực, toàn quốc hoặc mở rộng ra thị trường quốc tế. Theo đó, mô hình tổ chức của Tổng công ty Du lịch có thể là: Tổng công ty quốc gia (Du lịch Việt Nam), gồm các đơn vị thành viên hoạt động trên phạm vi toàn quốc; Tổng công ty khu vực, gồm các đơn vị thành viên hoạt động trên địa bàn một số tỉnh, thành hoặc ở một thành phố lớn.
Việc thành lập các Tổng công ty Du lịch sẽ xóa bỏ tình trạng cùng tồn tại nhiều doanh nghiệp của một ngành trên cùng một địa bàn lãnh thổ, nhưng lại do nhiều cấp, nhiều bộ, ngành quản lý; đồng thời tạo điều kiện để đầu tư đổi mới công nghệ và có thể hội nhập với thị trường khu vực và thế giới. Tuy nhiên, phải nghiên cứu, lựa chọn mô hình thích hợp để hoạt động để Tổng công ty đạt hiệu quả kinh tế cao; mô hình được lựa chọn và nguyên tắc hoạt động của nó phải thực sự khác so với nguyên tắc hoạt động động của các Tổng công ty và Liên hiệp xí nghiệp thời kỳ trước đây. Do đặc thù của Ngành, vốn của Tổng công ty Du lịch không nhất thiết phải là 1000 tỷ đồng như quy định đối với Tổng công ty 91 hoặc 500 tỷ đồng đối với Tổng công ty 90; phải chuẩn bị lựa chọn những nhà quản trị có năng lực thực sự, có trách nhiệm để quản lý điều hành doanh nghiệp. Chúng ta cũng đã có khá nhiều bài học về sự hoạt động không hiệu quả của các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty đó. Nhưng, điều này nhiều khi cũng được coi như là “cái cớ” để một số người chưa thích ứng với xu thế hình thành các tập đoàn kinh doanh xuyên quốc gia ở những nước phát triển trên thế giới, đã tìm cách cản trở hoặc kìm hãm những ý tưởng mới về nghiên cứu hình thành Tổng công ty mạnh trong ngành Du lịch.
Hình thành Tổng công ty Du lịch mạnh là việc làm cần thiết, đòi hỏi phải được thực hiện trong một chương trình tổng thể với những bước đi hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam nói chung và của ngành Du lịch nói riêng; phải tổng hợp được trí tuệ của các nhà quản lý, nghiên cứu và những người có kinh nghiệm thực tế trong hoạt động kinh doanh du lịch…Trước mắt, để thực hiện ngay Chương trình Hành động quốc gia về Du lịch và những sự kiện Du lịch năm 2000, các nghiên cứu xây dựng đề án thành lập Tổng công ty mạnh đối với các doanh nghiệp Du lịch hiện đang thuộc Tổng cục Du lịch Quản lý; phối kết hợp với các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh quá trình sắp xếp doanh nghiệp Du lịch nhà nước trên địa bàn cả nước. Trên cơ sở đó, tiến tới hình thành mô hình hợp lí của Tổng công ty du lịch Việt Nam (Hãng du lịch quốc gia Việt Nam) gồm các doanh nghiệp thành viên hoạt động trên địa bàn là những Trung tâm Du lịch trọng điểm của nước ta, góp phần làm cho các doanh nghiệp Du lịch nhà nước thực sự vững mạnh, kinh doanh đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững trong thiên niên kỷ mới.
Phạm Hà Trang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999