Thực hiện chương trình hành động quốc gia CT6 “Cần hình thành những doanh nghiệp du lịch mạnh” – Phần 1

Ngành du lịch Việt Nam đang triển khai chương trình hành động quốc gia về Du lịch và những sự kiện du lịch năm 2000 mang tên: “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới”. Là những người đang trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, chúng tôi đặc biệt quan tâm chú ý và hoàn toàn tâm đắc với Chương trình hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch (CT6) trong đó có một nội dung nêu rất cụ thể: “Kiện toàn sắp xếp lại các doanh nghiệp trực thuộc Tổng cục, hình thành những doanh nghiệp du lịch nhà nước mạnh, hoạt động có hiệu quả cao ở những địa bàn trọng điểm…”.
Chúng tôi cho rằng: Cách đặt vấn đề như vậy là hoàn toàn đúng đắn, nếu triển khai thực hiện đúng, có kết quả chương trình này sẽ góp phần quan trọng tạo thế và lực cho Du lịch Việt Nam tiến vào thế kỷ 21, bởi vì: Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, doanh nghiệp nhà nước phải có quy mô lớn và vừa, có trình độ công nghệ tiên tiến, đồng bộ bảo đảm phát huy tối đa năng lực kinh doanh, quản lý giỏi và đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Các doanh nghiệp nhà nước loại này sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội….Sau nhiều lần sắp xếp, tổ chức lại, một số doanh nghiệp Du lịch nhà nước hoạt động quá yếu kém đang bị loại trừ dần trong những năm gần đây, đặc biệt là các doanh nghiệp ở cấp quận, huyện quản lý. Tuy nhiên, những doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả còn quá ít ỏi và quy mô doanh nghiệp vẫn còn nhỏ bé, vừa không đủ khả năng thể hiện vai trò chủ đạo định hướng của kinh tế quốc doanh, vừa thiếu lực lượng để làm đối tác, cạnh tranh với nước ngoài. Trong điều kiện đó, việc xây dựng các doanh nghiệp Du lịch nhà nước có quy mô lớn làm nòng cốt và tăng khả năng cạnh tranh là yêu cầu cần thiết khách quan. Mặt khác, chúng ta thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cùng tham gia kinh doanh du lịch, nhưng trong khi chưa quản lý nhà nước bằng pháp luật chưa đi vào nền nếp, để đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp Du lịch nhà nước còn phải giữ vai trò độc quyền hoặc chủ đạo tròn lĩnh vực có nguồn thu lớn như kinh doanh lữ hành quốc tế…, một số lĩnh vực cần thiết khác đối với hoạt động kinh doanh du lịch như: Quản lý kinh doanh ở các khu du lịch lớn, các khu vui chơi giải trí, tôn tạo danh thắng, di tích lịch sử, văn hóa…, mà các thành phần kinh tế khác không muốn tham gia do không có lợi, thu lợi nhuận ít hoặc không đủ điều kiện về vốn để kinh doanh.
Việc xây dựng các doanh nghiệp Du lịch nhà nước mạnh mẽ hướng tới mục tiêu: Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Du lịch nhà nước trên thị trường; xóa bỏ dần chế độ chủ quản; xóa bỏ sự chia cắt cát cứ ngành theo ranh giới hành chính và sự phân biệt giữa kinh tế trung ương và kinh tế địa phương. Tăng cường khả năng huy động điều hòa vốn theo yêu cầu khách quan của quy luật kinh tế thị trường; tăng cường vai trò quản lý định hướng của nhà nước đối với các thành phần kinh tế trong hoạt động kinh doanh du lịch.
Như vậy, các doanh nghiệp Du lịch nhà nước mạnh vừa hoạt động ở tầm vi mô, vừa là công cụ để Nhà nước định hướng điều tiết vĩ mô. Sự hình thành các doanh nghiệp Du lịch nhà nước mạnh không chỉ thuần túy chịu sự tác động của các quy luật thị trường mà còn là công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng chiến lược phát triển Ngành bền vững. Nếu các doanh nghiệp Du lịch nhà nước mạnh được thành lập và hoạt động có hiệu quả cao thì trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch sẽ hình thành hai tầng: Tầng trên là những doanh nghiệp lớn, hoạt động trên phạm vi rộng; tầng dưới là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập hợp thành khu đệm làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn.
Phạm Hà Trang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Ban chỉ đạo rất cần, kế hoạch lại cần hơn

Chương trình hành động quốc gia về du lịch và các sự kiện Du lịch Việt Nam năm 2000 được Chính phủ chính thức phê duyệt đến nay đã tròn 4 tháng. Hiện đã có 16 tỉnh, thành phố thành lập Ban chỉ đạo về Du lịch tại địa phương và có các chương trình, kế hoạch cụ thể hưởng ứng Chương trình quốc gia. Các địa phương còn lại đang tiếp tục xây dựng chương trình hành động của mình.
Trong điều kiện kinh tế – xã hội chung còn nhiều khó khăn cấp bách, kết quả trên là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên so với tiến độ quy định vẫn có chậm trễ. Sự lúng túng của một số địa phương trong triển khai các Chương trình quốc gia bắt đầu từ việc cụ thể hóa các chương trình này vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình. Nên triển khai cả 6 chương trình hay chỉ chọn những chương trình thiết yếu nhất trong điều kiện có thể của địa phương ? Có nên thành lập Ban chỉ đạo về Du lịch hay chỉ cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể ? Nếu không thành lập Ban chỉ đạo liệu các kế hoạch hành động có nhận được sự hỗ trợ vật chất và hợp tác cần thiết để biến thành hiện thực ? Đó là những câu hỏi đang được nhiều địa phương quan tâm tìm lời giải.
Theo tinh thần chỉ đạo chung: Việc thành lập Ban chỉ đạo về Du lịch tỉnh, thành phố là tùy theo yêu cầu và điều kiện cụ thể từng nơi. Ban chỉ đạo có phương án, kế hoạch trình UBND tỉnh, báo cáo Tổng cục Du lịch để triển khai chương trình hành động tại địa phương.
Từ định hướng trên, rõ ràng điểm mấu chốt nhất khi triển khai Chương trình quốc gia tại các địa phương vẫn là khâu xây dựng kế hoạch hành động cụ thể. Một chương trình hành động về Du lịch hòa quyện trong Quy hoạch kinh tế – xã hội, Quy hoạch Du lịch của tỉnh, của vùng với từng kế hoạch riêng, chi tiết theo điều kiện có thể của địa phương – là điều kiện tiên quyết giúp Ban chỉ đạo địa phương hoạt động hiệu quả. Thậm chí ngay cả trong trường hợp không có Ban chỉ đạo, chính sức thuyết phục của kế hoạch hành động sẽ là cơ sở để hình thành nên các dự án đầu tư, thu hút các nguồn lực ở địa phương và khu vực tạo nên những “cú huých” thúc đẩy Du lịch tại mỗi địa phương phát triển. Ngược lại, nếu chỉ trọng tính hình thức của Ban chỉ đạo mà ít lưu ý tới tính thực tiễn và khả thi của các chương trình hành động thì cũng khó đem lại hiệu quả mong muốn.
Vậy nên, việc cần làm ngay lúc này ở nhiều địa phương vẫn là chuẩn bị thật tốt, thật chi tiết các chương trình hành động của mình. Đó là mũi tên trúng nhiều đích khi chuyển sang bước thực hiện.
Hoàng Long-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Phục vụ ăn Âu phải chăng đang bị lãng quên

Ăn u là quy trình phục vụ cho khách nước ngoài, chủ yếu là khách châu u ăn uống trong các nhà hàng khách sạn. Từ trước đến nay trong chương trình đào tạo của các trường nghiệp vụ du lịch, một nữa thời gian dạy nghề phục vụ bàn dành cho qui trình phục vụ ăn u. Đã là nhà hàng khách sạn, đầu bếp phải biết nấu ăn Âu. Nhân viên nhà hàng phải biết qui trình phục vụ ăn Âu và nhà hàng đương nhiên phải mua sắm dụng cụ phục vụ ăn Âu bao gồm: dĩa có kích thước, độ nông sâu khác nhau, thìa, dao, nĩa, lặp là, tách trà và các loại ly sử dụng cho các loại rượu khác nhau bởi mỗi món ăn u tuỳ theo tính chất thực phẩm, hải sản hay thịt gia súc, gia cầm, rán hay luộc để chọn một loại rượu thích hợp.
Những khách sạn xây dựng từ trước năm 1994 dù lớn hay nhỏ đều có nhà hàng và được trang bị dụng cụ ăn Âu đồng bộ. Nhân viên nhà hàng trong những năm đó ít nhiều đã thuần phục qui trình phục vụ ăn Âu, cách bày bàn, cách rót rượu và thu dọn dụng cụ từ ăn điểm tâm đến ăn bữa và các loại tiệc khác nhau. Còn nay thì sao? Các khách sạn càng xây về sau này càng hiện đại về trang thiết bị, nhiều nhà hàng có thể phục vụ các bữa tiệc lớn với 300 – 500 chỗ ngồi, chiếm vị trí sang trọng trong một tổng thể kiến trúc của khách sạn tầm cỡ 3 sao, bàn ghế cũng được sắm bằng vật liệu cao cấp hơn, song đáng tiếc các nhà đầu tư, quản lý khách sạn hầu như không chú ý đến dụng cụ phục vụ ăn uống trong nhà hàng đó là chưa kể xây dựng không phù hợp với dây chuyền công nghệ phục vụ ăn uống. Họ đã bỏ ra nhiều tỷ đồng để đầu tư xây dựng khách sạn, nhiều trăm triệu cho biết bị nhà hàng song khi cần mấy chục triệu để mua sắm dụng cụ ăn uống đồng bộ họ lại đắn đo. Thế là dụng cụ bày trên những chiếc bàn sang trọng kia không tương xứng bởi dụng cụ không cùng kiểu dáng, màu sắc, không đủ chủng loại, chúng tôi thường ví như một người đàn ông mặc com-lê đeo cà vạt nhưng chân lại đi dép nhựa. Điều đáng buồn hơn là nhân viên phục vụ hầu như quên hết mqui trình phục vụ ăn Âu, các động tác bưng, đưa, gắp, rót vụng về và thậm chí những nhân viên mới tuyển dụng chưa bao giờ nhìn thấy hết các loại ly rượu và rượu nào dùng khai vị, rượu nào uống trong bữa.
Chúng tôi cho rằng để tạo sự sang trọng cho một nhà hàng ngoài những trang thiết bị hiện đại các dụng cụ ăn uống không nhất thiết phải là những dụng cụ đắt tiền nhưng cần phải đồng bộ về kiểu dáng, màu sắc. Một bộ courve ăn uống đồng màu, đồng chất liệu được in tên đơn vị (nhà hàng), tạo sự sang trọng cho nhà hàng và đó cũng là cách tiếp thị tốt nhất. Vài năm gần đây do lượng khách nước ngoài ít, thời gian lưu trú ngắn, các nhà hàng khách sạn của chúng ta chưa thoát khỏi những bế tắc trong kinh doanh, song không vì thế mà chúng ta lãng quên những gì phải làm, những yêu cầu tối thiểu cho một nhà hàng khách sạn, đặc biệt là đội ngũ nhân viên phục vụ bàn có tay nghề bởi không riêng gì khách ăn u, khách trong nước cũng yêu cầu chất lượng phục vụ cao. Khó khăn của chúng ta là tạm thời, năm du lịch 2000 đang gần kề, những nhà hàng khách sạn quốc doanh hơn hẳn lực lượng tư nhân bên ngoài về không gian, cảnh quan, kiến trúc tại sao chúng ta không lợi dụng ưu thế đó để thu hút khách.
Thiết nghĩ, trong tiêu chuẩn xếp hạng sao của tổng cục du lịch yếu tố sang trọng của một nhà hàng khách sạn là một chỉ tiêu để cho điểm đánh giá và xếp sao. Sẽ là không đồng bộ nếu một nhà hàng sang trọng không thể và không có khả năng phục vụ một tiệc u theo đúng nghi lễ ngoại giao.
Dương Thị Thơ – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Nhân tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm – cần sớm có chương trình quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm

Với việc thành lập Cục Quản lý Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và tổ chức lễ phát động “Tháng hành động vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm:, Bộ Y tế đã sớm triển khai thực hiện Quyết định số 14/1999/QĐ-TTg và Chỉ thị số 08/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Dư luận hết sức phấn khởi trước sự quan tâm tới sức khỏe mọi người dân của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Y tế, và hy vọng từ nay, nói như Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm là “sức khỏe của mỗi người dân, của cả dân tộc là vốn quý của quốc gia” sẽ được Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương chăm lo bảo vệ với một thái độ rõ ràng, kiên quyết nhất.
Từ thực tế và những cuộc gặp gỡ do Bộ Y tế tổ chức, thiết nghĩ, để đảm bảo về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, Nhà nước cần sớm có Chương trình quốc gia về vấn đề này. Chỉ có Chương trình quốc gia mới huy động được sức mạnh tổng hợp của các Bộ, ngành, địa phương và mọi công dân. Dĩ nhiên, đã là Chương trình quốc gia thì phải có đề tài nghiên cứu khoa học, có các dự án, công tác đào tạo, kinh phí thực hiện, hợp tác quốc tế….Trên cơ sở đó, vấn đề đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm mới được định hướng và được thực hiện thường xuyên, liên tục ở mọi nơi mọi lúc. Trên thực tế, trước đây, khi phát động một phong trào hoặc một vấn đề gì đó thì có nơi có lúc đã “đánh trống bỏ dùi”, ban đầu thì trống giông cờ mở, hô hào nhưng càng về sau càng lặng dần và rốt cuộc là tốn công, tốn tiền mà không hiệu quả. Kiểu cách đó được gọi là “đầu voi đuôi chuột”. Cần phải tránh kiểu cách đó, nhất là về vấn đề đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm – vấn đề liên quan đến sức khỏe, tính mạng mỗi người và nòi giống. Trước thực trạng môi trường sống bị ô nhiễm, mất vệ sinh, nạn làm hàng giả và ngộ độc thực phẩm gia tăng một cách đáng báo động, việc nước ta có chương trình quốc gia về vấn đề chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề bức xúc được dư luận quan tâm, đòi hỏi. Phải nói rằng, trước đây, khi chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề chưa thực sự được quan tâm đúng mức, nó thuộc “năm cha, bảy mẹ” để rồi không ngành nào, cơ quan nào chịu trách nhiệm thì nay chúng ta đã có Cục Quản lý chất lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế. Chính phủ nên giao cho Bộ Y tế (mà nhân vật chính là Cục Quản lý Chất lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm) đứng ra xây dựng Chương trình quốc gia về vấn đề này, vì đây là lĩnh vực chuyên môn của Cục. Tất nhiên, xây dựng chương trình quốc gia không phải là vấn đề đơn giản. Nó đòi hỏi sự tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, các nhà khoa học học và được sự quan tâm của đạo của Chính phủ.
Chương trình quốc gia về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ giúp cho việc bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm được diễn ra một cách bài bản, thường xuyên liên tục, sâu rộng và có hiệu quả. Đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng Chương trình quốc gia về vấn đề này.
Đinh Trường – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Phần mềm mới cho quản lý khách sạn

Một hệ thống phần mềm mới được dùng trong công tác điều hành, quản lý khách sạn vừa được công ty trách nhiệm hữu hạn Siêu Tính giới thiệu. Loạt phần mềm trên bao gồm:
Phần mềm quản lý khách sạn Micros 3500 có ưu điểm là dễ cài đặt, dễ sử dụng, an toàn bảo mật, khả năng uyển chuyển linh hoạt.
Hệ thống quản lý bán hàng Micro 3700 thích hợp với các nhà hàng, khách sạn, câu lạc bộ gôn, hồ bơi… Micro 3700 gồm phần mềm quản lý khác như PMS, PM, kế toán, quản trị hội viên…
Hệ thống quản lý nguồn nhân lực gồm các phần: quản lý nhân sự, tuyển dụng, hồ sơ, kế hoạch phát triển nhân viên, hệ thông tiền lương, chấm công, bảo hiểm…
Hệ thống tính cước điện thoại cho khách sạn và văn phòng bao gồm các phần: công nghiệp khách sạn, thông tin khách sạn, giới thiệu hệ thống và dịch vụ WinTap… Hệ thống này sẽ giúp kiểm soát được các cuộc điện thoại, Fax trong nhà hàng, khách sạn, tránh lãng phí.
Nhóm phần mềm nói trên chủ yếu dành cho những khách sạn vừa và nhỏ. Nó có thể thay thế những phần mềm đắt tiền mà các khách sạn vừa và nhỏ không có đủ kinh phí để cài đặt. Với phần mềm này người sử dụng chỉ dùng bàn phím nên thao tác rất nhanh, tiết kiệm được thời gian.
Hệ thống phần mềm trên hiện có bán tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Siêu Tính:
Tại Hà Nội: 25K/5 Phan Đình Phùng, quận Ba Đình.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh: 46 Nguyễn Thông, quận 3.
Nhầm
Vợ chồng nhà kia đến Hạ Long nghỉ mát. Người vợ không yên tâm về 2 đứa con ở nhà, lúc lên giường ngủ bèn gọi điện thoại về nhà. Ông chồng đang ngủ mơ mơ màng màng bỗng nói: “Đừng gọi số điện thoại đó em ơi, như thế vợ anh biết đấy!”.
Vợ: Trời!!
Quà tặng chồng
Nữ A: Chị mua quà gì tặng sinh nhật chồng?
Nữ B: Tôi biết anh ấy thích viết nhật ký mà lại viết rất tỉ mỉ và không muốn cho người khác xem. Cho nên tôi đã mua tặng anh ấy 1 quyển sổ nhật ký có cá khoả hẳn hoi.
A: Chắc anh ấy thích lắm nhỉ. Thế chị không có thứ gì cho riêng mình à?
B: Có chứ, tôi đã đánh thêm một chiếc chìa hkoá của cuốn nhật ký kia rồi!
Bức ảnh thực
Một đôi vợ chồng đến hiệu chụp ảnh kỷ niệm đám cưới bạc. Người thợ ảnh nói với bà vợ: “Bác ngồi gần bác trai một chút, tay quàng lên vai bác trai như vậy ảnh chụp tự nhiên hơn”. Ông chồng cười nói: Nếu muốn chụp bức ảnh thực tự nhiên thì tay của bà ấy phải thò vào lục túi quần áo của tôi cơ!
Thanh Hương – Tuần Du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Đường Lam Sơn Chất lượng Vàng Quốc gia

Địa chỉ giao dịch: Thị trấn Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hóa; TEL: 037.834091; FAX: 037.834092
Chi nhánh tại Hà Nội: 44 Đường Giải Phóng – Quận Đống Đa – Hà Nội; TEL + FAX: 04.8693748
II – Vùng đất cất lên tiếng hát
Nhà máy quyết định thay đổi phương thức đầu tư cho nông dân trên nguyên tắc giảm thiểu số tối đạ thủ tục hành chính, giấy tờ. “Cầu” trung gian HTX bị “dỡ” bỏ. Thực hiện mọi khâu, mọi việc trực tiếp với nông dân. Nhà máy cử cán bộ xuống từng bản, từng nhà. Mọi thỏa thuận trồng mía với nông dân được bàn bạc, ký kết ở tại đồi, tại nhà của họ. Ấy thế mà, như con chim sợ cành cong, nhiều gia đình chối đây đẩy. Thậm chí có người còn lý sự lại:
Cây mía là cây công nghiệp sa sỉ phẩm. Trồng mía vất vả mà thu lợi chẳng bằng cây lúa. Theo Nhà máy trồng mía, tháng Ba, ngày Tám hết thóc gạo, biết lấy gì để ăn. Cán bộ xem, nhà em đây, đất trồng lúa chỉ có mấy sào, nhờ trời được mùa gạo còn chưa đủ ăn, sao dám phiêu lưu bỏ lúa để trồng mía?
Cán bộ nhà máy giải thích:
Nhà máy không yêu cầu bà con trồng mía trên đất trồng lúa mà là trồng trên đồi.
Trồng mía trên đồi ưu? Đồi nào?
Đồi ở quanh làng ta, nhà ta, ruộng nhà ta. Kia kìa ! – Cán bộ chỉ tay lên đồi.
Các ông có biết trước đây Nhà nước cũng đã đem cây đay lên đồi này để trồng rồi chứ ?
Biết !
Biết, tức là biết thất bại. Sao còn xui dại chúng tôi. Cây đay chỉ lấy vỏ mà còn chẳng trồng được huống chi cây mía trồng lấy mật, lấy đường.
Bi quan, cán bộ phải năn nỉ:
Trời đất ơi, bác có tin tôi không ?
Tin, nhưng tôi không dám.
Cán bộ Nhà máy có người phát khùng lên:
Bây giờ thế này nhá: Nhà máy đem giống, phân bón, thuốc trừ sâu đến cho bác; đem máy cày đến cày đồi cho bác; Lại cử cán bộ như tôi đây hướng dẫn trồng mía cho bác. Việt của bác; của gia đình bác chỉ là chăm sóc, bảo vệ, thu hoạch. Bác thu hoạch chỉ việc dồn đống lại đó, ô tô sẽ đến chuyển về Nhà máy. Tóm lại là việc của bác chỉ là bảo vệ, chăm sóc cho mía thật to, thật ca, thật ngọt. Càng nhiều tấn tạ, bác càng có nhiều tiền. Đấy, như thế gia đình bác có làm được không?
Nhiều người nông dân ngỡ ngàng với phương thức đầu tư này, còn bán tín bán nghi.
Nhà máy dám làm như thế thật ư ?
Sao không thật, có hợp đồng kinh tế giữa Nhà máy với bác hẳn hỏi đây.
Xem hợp đồng thật kỹ, nông dân mỉm cười. Ấy thế mà họ vẫn còn ngại:
Nhỡ đất đồi sỏi đá, chúng tôi chăm sóc mà cây không lớn được thì sao
Bác cứ làm đúng như hướng dẫn, cây không lớn được Nhà máy không bắt đền bác đâu.
Với phương cách đầu tư như vậy, người nông dân dần dần tin tưởng. Một nhà ký hợp đồng, hai nhà ký hợp đồng, qua năm tháng, đã có hàng vạn hộ gia đình ký hợp đồng trồng mía bán cho Nhà máy. Và rồi không phải chỉ có các hộ nông dân ở 34 xã thuộc 4 huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn, Ngọc Lạc, Thường Xuân mà các hộ xung quanh vùng đồi Làm Sơn cũng hưởng ứng, lên tới 53 xã, thậm chí ngay các hộ ở ba nông trường Lam Sơn, Sao Vàng, Thống Nhất cũng ào ào làm theo. Vùng đồi sỏi đá, gia góc, rộn rã suốt ngày đêm. Kết quả thật khác xưa. Xin được nêu những con số khái quát:
Năm 1990, diện tích đạt: 1.369 ha
Năm 1991 tăng lên: 2.569 ha
Năm 1993 tăng lên: 3.116 ha
Năm 1996 tăng lên: 5.600 ha
Năm 1998 tăng lên: 8.640 ha
Trong đó, diện tích Nhà máy đầu tư khai hoang phục hóa và cải tạo đất, xây dựng đồng ruộng lên tới 7.800 ha, với tổng số vốn đầu tư cho nông dân gần 10 tỷ đồng. Cùng với diện tích vùng nguyên liệu không ngừng tăng lên, năng suất cũng tăng lên thật bất ngờ.
Năm 1987, năng suất chỉ đạt 18,8 tấn/ ha.
Năm 1990, tăng lên 37,5 tấn/ ha
Năm 1996 tăng lên 62 tấn/ ha, gấp 3 lần năm 1987.
Sản lượng mía thu hoạch:
Năm 1992 đạt 51.000 tấn
Năm 1995 tăng lên 192.000 tấn
Năm 1996 tăng lên 320.000 tấn
Năm 1998 tăng lên 680.000 tấn
Trữ lượng đường, chất ngọt lịm của mía cũng tăng từ 8 CCS lên 10 CCS
Rõ ràng với cơ chế đúng, phù hợp với cách nghĩ và cách làm của người nông dân, Nhà máy đường Lam Sơn là khởi nguồn làm thay đổi vùng đất đồi sỏi đá, hang sơ từ ngàn vạn năm nay trở mình thành vùng “đất ngọt”. Đến với vùng đồi bây giờ, mùa xuân ta được say sưa ngắm nhìn những chồi non xanh biếc vươn lên; mùa thu được thỏa thích ngắm nhìn đồi núi được phủ một màu xanh ngút ngàn, lúc nào cũng lao xao, xào xạc; chớm đến mùa đông, lá xanh sẫm lại, trong heo ây, ta nghe chất mật ngọt từ lòng đất dâng lên, dồn tụ vào từng thân cây mía. Đồi núi Lam Sơn hoang vu trầm mặc, nay như uy nghi, như được gỡ bỏ tấm áo thâm xì, gai góc để lộ ra nhưng nét thanh xuân tươi trẻ. Cái không khí lo làm lo ăn đã bừng lên trên các sườn đồi. Người nông dân không còn lạ lẫm với cái từ Hợp đồng, ngày ngày vui với câu chuyện làm ăn:
Hợp đồng: Nhà máy
Giống mía: Nhà máy
Vật tư: Nhà máy… (còn nữa)
Phạm Thành – Sỹ Hào-Tuần Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Làng văn hóa đồng xanh – ấn tượng văn hóa Tây Nguyên thu nhỏ

Cách thành phố Pleiku (Gia Lai) 10 km về phía đông, dọc theo quốc lộ 19, khi những dãy phố dài thưa dần, bạn sẽ chứng kiến khung cảnh đồng lúa An Phú bằng phẳng, bao la – điều kỳ lạ có thật trên vùng đất cao nguyên thường chỉ có đồi núi tiếp liền. Chếch về phía bên phải, xa xa trong tầm nhìn, giữa khoảng xanh tươi non của lúa đương thì con gái là những mái nhà rông, nhà dài mang đậm dấu ấn Tây Nguyên và màu xanh của dừa, cau thấp thoáng ẩn hiện. Đó là khu du lịch văn hóa có tên Đồng Xanh vốn được xây dựng từ một vùng ngập trũng, hoang hóa, um tùm cỏ cây.
Có dịp ghé qua nơi này, bạn sẽ từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và khó mà hình dung nguyên trạng vùng đất này vài năm trước đó. Bàn tay, trí tuệ và tình cảm con người đã biến vùng đất hoang hóa, sình lầy thành khu công viên văn hóa xinh đẹp. “Nói thế chứ trên diện tích 3 ha này chúng tôi đã đầu tư vào đó hơn 1 tỷ đồng” – Giám đốc công ty điện ảnh Gia Lai – Đinh Vạn Dũng khi đưa chúng tôi tham quan một lượt công viên đã cho biết thế. Gia Lai là tỉnh Bắc Tây Nguyên nổi tiếng bởi đặc trưng văn hóa đại diện cho cả vùng; xây dựng khu văn hóa thu nhỏ ấy vừa để làm điểm giải trí cho khách tham quan vừa giới thiệu bản sắc văn hóa độc đáo đó. Và thế là Ban Giám đốc công ty đã đề xuất ý kiến và lập đề án xây dựng, đầu tư vào công trình bằng cách tận dụng địa hình lầy thụt, ngập nước quanh năm. Con đường lát đá phẳng phiu đưa chân ta đến với đôi cánh cổng hình đôi ngà voi thanh mảnh vút cao. Qua cánh cổng ấy một đỗi là chiếc cầu tre theo lối chùa cầu Quảng Nam dài gần 20 mét cong cong dẫn ta vào khu chính diện của công viên. Đứng tại đây, ta có thể quan sát toàn bộ khu văn hóa từ nhà lễ tân trung tâm hình chiếc nón úp khổng lồ hoàn toàn bằng nguyên liệu tranh tre nứa lá đến ngôi nhà rông, đàn t’rưng nước, mái nhà dài, chòi giữ lúa, chuồng chim thú bọc lưới đến hồ nước, khu cây cảnh, hoa tươi, nhà thủy tạ, phòng ăn, phòng hát karaoke, sân khấu ngoài trời, những chiếc cầu nho nhỏ xinh xinh ngang, dọc nhiều kiểu dáng nối liền với nhau….Màu xanh của cây, nước, sự tươi thắm, rực rỡ hoa; những lối nhỏ lát đá quanh co; một chiếc ghế đá thân quen bất chợt hiện ra trên lối đi; chiếc nấm e dè nép mình trong bụi cây,….thoạt nhìn cứ như chẳng có gì đáng chú ý nhưng càng nhìn càng thấy dụng ý tinh tế của người kiến trúc, xây dựng – làm sao để du khách thấy nơi đây thật sự là khung cảnh quen thuộc, gần gũi của họ. Thành phố Pleiku không xa – nơi cuộc sống đô thị tấp nập, ồn ào – do vậy, đây là không gian lý tưởng cho những kỳ nghỉ ngơi, thư giãn sau nhiều ngày làm lụng vất vả đối với nhiều người. Dịp xuân Kỹ Mão 99 vừa rồi, khu văn hóa Đồng Xanh đón tiếp đến 4 vạn lượt khách đến thăm, doanh thu trên 200 triệu đồng. Không cứ gì ngày lễ, ngày Tết, ngày thường cũng có rất nhiều người đến tham quan, thư giãn. Đồng Xanh trở thành địa chỉ văn hóa, du lịch, nghỉ ngơi quen thuộc và “uy tín” đến mức hễ có đoàn khách, vị khách nào đến, “chủ nhân Gia Lai” đều đưa đi giới thiệu.
Sắp tới, Đồng Xanh sẽ được mở rộng, bổ sung thêm một số hạng mục như khu công trình văn hóa của đồng bào dân tộc Kinh, cầu treo bằng mấy, các trò chơi dân gian, các lễ hội đồng bào Tây Nguyên, làng nghề thủ công mỹ nghệ, khu vui chơi giải trí thiếu nhi như Water Park, hồ bơi cùng một số động, thực vật Tây nguyên v.v…
Thất Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Sự cảnh báo an toàn về đồ uống

Bia hơi Hà Nội: Hà Nội…bia
Cách đây hơn một năm người Hà Nội ngỡ ngàng thấy các phân xưởng Đúc của Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo đực dỡ ra phía đừng Bà Triệu, phố Thái Phiên, phố đoàn Trần Nghiệp để mở quán bia. Tên quán bia được treo biển tiếp thị rõ to, và quán bia còn có cả nhạc nữa. Bung ra các quán bia ở khắp Hà Nội, nhiều nhất là phố Minh Khai, lối rẻ vào công ty bia Halida, bia Việt Hà, lối xuống Trương Định, phố Vọng, bến xe phía Nam, ngược lên là bến xe Long Biên. Một lữ khách từ Sài Gòn ra Hà Nội ngỡ ngàng thấy Hà Nội thật nhiều quán bia, nhất là đoạn đường từ ga Hà Nội kéo dài đến ngã Tư Vọng. Bia hơi và khói của các món nướng, như chả băm, thịt bò nướng, bê thui, các món lẩu, món xào, đến món nhậu rẻ tiền như lạc 500 đ/ 1 dĩa, nem chua 500đ/ 1 chiếc… thật là kiểu gì cũng chiều được khách.
Bà chủ quán bia ở phố Minh Khai có vẻ thành thật: “Nhà tôi bán bia tậu được 2 xe, một xe dream, một cúp đời 86, cho hai cháu đi học. Đấy là quán bia nhà tôi nhỏ, mở quán lớn dễ phải tậu được nhà”. Ở quán bia phố Đại Là có tới 2 – 3 quán bia đã dựng nhà 4 tầng. Thế mới biết vì sao các quán bia thi nhau nở rộ vào dịp từ tháng 4 – tháng 9. Bây giờ ngoài các quán bia “chuyên đề”, bia hơi Hà Nội, bia hơi Việt Hà, bia “con voi” ký hiệu Halida đã có mặt ở các quán cơm bình dân giá cao ở phố Đặng Thái thân, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trần Hưng Đạo… đến các quán cơm bụi ở phố Vọng, đuôi cá, cơm 2.000đ/ suất bia 1.000 đ/ cốc nhỏ, 1.800 đ/ cốc vại, phục vụ cho các bác xe thổ, đạp xích lô và các anh nông dân chạy chợ rau, hoa quả.
Có thể nói bia hơi “trên từng cây số ở Hà Nội” đều có mặt. Nhiều nhà quản lý kinh tế bàn công chuyện, ký kết hợp đồng ở các quán bia, nhiều nhà văn, nhạc sĩ, nhà thơ, bàn thế sự cũng ở quán bia. Và các nhà lữ hành du lịch sau khi đi bốn phương trời về Hà Nội cũng tụ tập bạn bè ở quán bia để “xả láng”.
Bia hơi không chỉ len lỏi vào nhà hàng, cơm bình dân, bún chả, nem rán, mà còn chiếm cả “trận địa” rạp chiếu bóng Kim Đồng, một thời là sân chơi văn hóa cho các em. Rạp Kim Đồng xưa kia là ước mơ của bao đứa trẻ đến xem phim trong dịp hè, cũng phải phá đi nhường chỗ cho bia Việt Hà và ngày nào “rạp” cũng đông khách, toàn người lớn, không phải ngồi xem phim… mà ngồi uống bia.
Trong đám đông những người ngồi uống bia ấy, có ai tự hỏi: “Đến bao giờ Hà Nội… lại có rạp Kim Đồng. Và giá như rạp chiếu phim dành cho trẻ, các sân chơi văn hóa dành cho trẻ cũng phát triển như… quán bia thì tốt biết bao”.
Sự cảnh báo muộn màng
Phải công nhận bia hơi rẻ nó hợp với sự chi tiêu của người lao động nhưng chất lượng bia hơi còn là việc phải bàn. Nhiều quán bia bình dân, quán cơm bình dân, bia được pha thêm nuóc đá rồi để trong bình xốp hoặc thùng tôn ướp đá bán ra cho dân. Chưa kể đến, hôm gặp mưa, bia ế để thùng đá, hôm sau bán tiếp cho người dùng. Các quán cơm ở chợ Long Biên, gầm cầu, ở phố Cầu Đất, phố Hàm Tử Quan, bia hơi phục vụ cho người làm nghề đội sỏi, đội đá gọi là nghề “cứng cổ” thì khi cơn khát đến bia có pha nước lã, “khuất mắt trông coi”, cũng còn ngon chán. Sẽ có bao nhiêu quán bia pha nước lã mà ngày ngày người dân vẫn uống? Câu hỏi này dành cho các nhà quản lý song qua nhẩm tính về giá cả hiện tượng đã thấy mười mươi:
Chỉ cần làm con toán đơn giản 5.000 đ/ 1 lít bia, vậy mà có nơi báo 1.800 đ/ cốc vại. Một cố vại bằng 0,5 lít. Giá gốc 5.000đ/1 lít bán ra có 3.600đ/ lít không ai đi buôn bia âm vào vốn bao giờ? Bia rẻ ắt phải pha nước lã, thường tình đã có bao nhiêu người uống bia pha nước lã? Và một ngày ở bệnh viện Bạch Mai, khoa Hồi sức cấp cứu có 3 – 4 trường hợp cấp cứu vì ngộ độc ăn uống, không biết trong đó có bao người ngộ độc bia hơi?
Một cháu giúp việc cho quán bia sau khi thôi việc đã thú nhận, cháu không thể đổ nước lã vào bia được. Chủ hàng bảo cháu pha thêm nước lã vào, bia nước lã không chết đâu mà sợ. Nhưng pha nước lã mãi cháu sợ cháu cũng là thứ nước lã của chủ quán bia. Đấy là sự gặp gỡ hiếm hoi khi tôi hỏi cháu: – Rồi cháu sẽ làm gì? Cháu đáp: Cháu sẽ lên chợ Long Biên đi gánh thuê hoặc rửa bát thuê cho quán cơm hơn là đi bán bia pha nước lã. Có lẽ do sợ nước lã nên có người chỉ chuyên uống bia chai, bia lon. Nhưng đó là những người có thu nhập cao hơn và ít uống bia thường xuyên. Bia hơi dân dã vẫn được người dân Hà Nội uống. Và để tránh bia pha nhiều nước lã họ đã tìm quán bia chất lượng cao để thưởng thức.
Trên thị trường đã có nhiều mặt hàng Việt Nam chất lượng cao, liệu bia hơi có thuộc hàng chất lượng cao không? Gần đây đã thấy trên các quán bia Hà Nội treo biển bia hơi chất lượng cao ? Dù sự cảnh báo đã muộn, người uống bia hơi xin hãy lựa chọn nơi cửa hàng có uy tín mà dùng bia, để tự cứu lấy sức khỏe của chính mình.
Lê Minh Sâm – Tuần Du lịch – 1999

Vĩnh Long xanh mướt miệt vườn

Vĩnh Long là một trong 12 tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Có thể nói hầu hết những nét đặc thù tiêu biểu của vùng du lịch sinh thái đồng bằng châu thổ dường như tạo hóa đã quá hào phóng ban tặng cho vùng đất trẻ này. Vì vậy những năm gần đây ngành Du lịch Vĩnh Long đã chiếm cho mình một vị trí khá vững chắc, bằng thực thế, thời gian qua du lịch Vĩnh Long đã tiếp nhận hàng chục ngàn du khách quốc tế đến tham quan du lịch miệt vườn. Chúng tôi vừa có cuộc gặp gỡ, trao đổi cùng ông Đặng Văn Hoai, Giám đốc Công ty Du lịch Cửu Long về những thành quả trên.
Thưa ông, Vĩnh Long được mệnh danh là vùng “lãnh thổ của những dòng sông” bao năm qua nổi tiếng về DL sinh thái (DL miệt vườn). Đặc biệt với chủ đề “Đi trong màu xanh đồng bằng sông Cửu Long” mà chính ông là tác giả. Nhân tới đây đón chào năm du lịch 2.000, ông có thể giới thiệu những nét đặc trưng độc đáo của DL Vĩnh Long? Và đồng thời cho biết sơ nét về quá trình “vận hành” của ngành DL Vĩnh Long hiện tại cũng như hướng phát triển?
Du lịch ĐBSCL nói chung, Vĩnh Long nói riêng có cùng chung một môi trường qua các tuyến điểm tham quan du lịch, đặc biệt là du lịch miệt vườn (DL xanh). Toàn khu vực 12 tỉnh có những nét hao giống nhau về cái “chất”, riêng về cái “hồn” mỗi nơi có khác… Du lịch Cửu Long lấy mốc thời gian vào năm 1992 sau khi chia tỉnh (Vĩnh Long – Trà Vinh) ngành Du lịch Vĩnh Long từ đó đã có một cuộc thay đổi…
Nhưng tên Công ty chưa thay đổi?
Tên Công ty Du lịch Cửu Long là tên của tỉnh Cửu Long cũ. Sở dĩ không thay đổi tên mới tỉnh Vĩnh Long như hiện nay, bởi lẽ hai chữ Cửu Long, suy ra trong tiềm thức nó ẩn chứa một cái gì đó rất sâu sắc và đầy tính nhân bản, đồng thời thể hiên tính “cội nguồn” được xuất xứ từ chín cửa sông (Cửu Long Giang) đổ ra biển Đông. Chính vì lẽ đó chúng tôi mạnh dạn, đưa ra chủ đề “Đi trong màu xanh ĐBSCL”, mở rộng phát triển tuyến du lịch sinh thái (DL miệt vườn) từ đó bước đầu xây dựng DL bền vững. Thông qua những định hướng của Đảng và chủ trương của Nhà nước về việc phát triển Du lịch. Công ty chúng tôi phối hợp cùng dân địa phương cùng triển khai xây dựng các tuyến du lịch miệt vườn đón khách. Tuy nhiên giai đoạn đầu Công ty quả có gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ sự hỗ trợ của ban ngành lãnh đạo tỉnh, mặt khác sự nhiệt tình công tác của đoàn thể CBCNV đơn vi, cùng nhân dân địa phương du lịch Cửu Long đã xây dựng hơn 10 tuyến điểm tham quan du lịch miệt vườn, phối hợp giữa Công ty và dân như điểm tham quan Nhà ông Sáu Giáo, ông Mười Đầy, ông Tám Hồ, ông Hai Hồng v.v…
Những tuyến điểm kể trên nằm trong địa bàn các xã ven sông và Cù Lao phương tiện giao thông đi lại bằng ghe xuồng. Mỗi tuyến điểm đều có một nét riêng về sản phẩm Du lịch phục vụ khách: Vườn cây ăn trái đủ loại – ẩm thực đặc trưng – Quà lưu niệm – Ca nhạc văn hóa Nam Bộ – Tiểu thủ công nghiệp và tiêu khiển du thuyền trên sông rạch. Điều chúng tôi tự hào hơn hết, đ1o là phong cách phục vụ của người dân địa phương ở đây luôn giữ được bản sắc dân tộc của mình trong giao lưu cũng như phục vụ của người dân địa phương ở đây luôn giữ được bản sắc dân tộc của mình trong giao lưu cũng như phục vụ rất ân cần niềm nở hiếu khách. Chắc có lẽ đây cũng là một trong những thế mạnh của ngành Du lịch Cửu Long, góp phần thu hút du khách. Năm 1992 số lượng khách quốc tế tham quan chỉ có 500 khách năm 1993 – 1995 tăng lên 15.000 người. Năm 1995 – 1998 là 10.500 khách, dự đoán năm 2.000 lượng khách quốc tế sẽ tăng trên 20.000 khách/năm.
Với lượng khách quốc tế đến tham quan các điểm du lịch kể trên, chưa kể khách nội địa chắc chắn doanh thu của du lịch rất khả quan. Nhưng đâu chỉ có vậy?
Tất nhiên để phát triển, du lịch miệt vườn Vĩnh Long đang nỗ lực mở hướng. Thời gian qua đã quy hoạch tổng thể chi tiết về xây dựng phát triển Du lịch địa bàn trong tỉnh. Riêng sản phẩm dịch vụ DL của Công ty hiện nay, có 4 khách sạn trong đó có một khách sạn (3 sao) vừa được nâng cấp xây dựng mới; một nhà hàng nổi và các dịch vụ khác. Hướng tới chúng tôi cho xây dựng mới một khách sạn từ 3 sao đến 4 sao cạnh bờ sông Tiền, ngoài ra Công ty đang phối hợp với du lịch Trường an mở dịch vụ cầu trượt nước và nhiều loại hình giải trí đa dạng với mục đích đón chào năm du lịch 2.000 “Điểm đến thiên niên kỷ mới” đồng thời để góp phần thực hiện chương trình hành động quốc gia và các sự kiện du lịch tới đây.
Liu Sơn -Tuần Du lịch – 1999

Ngành du lịch Cuba đã và sẽ phát triển mạnh

Cuba, nơi đã từng được coi là Thiên đường giữa biển nhiệt đới Caribê với những bãi biển, hàng dừa xanh ngút ngàn quá tầm mắt và chan hòa ánh nắng. Chẳng thế mà Mỹ đã bao năm nuôi dưỡng chế độ độc tài Batista để biến hòn đảo này làm khu du lịch cho riêng những người có thế lực của Mỹ.
Thế nhưng hòn đảo du lịch này đã làm một cuộc cách mạng thay đổi tất cả. Cuba không còn là sân sau của Mỹ. Vậy là Cuba bị bao vây cấm vận. Nhưng Cubu vẫn là hòn đảo của những người dân yêu chuộng hòa bình và ham du lịch. Sau thời kỳ khó khăn do bị cắt nguồn viện trợ bên ngoài, chủ yếu từ Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và bị bao vây, phong tỏa, Du lịch hiện là một trong những ngành kinh tế chủ chốt của đất nước, nguồn thu ngoại tệ lớn nhất và đang trên đường phát triển mạnh.
Năm 1998, Cuba thu hút hơn 1,4 triệu du khách nước ngoài, đem lại nguồn thu gần 2 tỷ USD. Năm 1999, Cuba dự định đón 1,7 triệu du khách nước ngoài và đến năm 2000 con số này sẽ là 2 triệu người với nguồn thu dự tính là 2,6 tỷ USD. Đối với các nước có ngành du lịch phát triển thì những con số kể trên không đáng kể bao nhiêu. Nhưng đối với Cuba, một nước vừa ra khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất từ 1991-1994 và cơn suy thoái 1997/98 do tác động của cuộc rối loạn kinh tế toàn cầu xuất phát từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á, Nga và Brazil, thì nguồn thu đó quả là có một vai trò đáng kể có thể đảm bảo đáp ứng những nhu cầu của nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển.
Phải nói là trong những năm của thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa, ngành du lịch Cuba chưa được chú ý khai thác đúng với tiềm năng của nó. Cho đến năm 1990, khi Cuba xúc tiến chương trình phát triển du lịch, ngành du lịch mới có bước phát triển nhanh và hướng ngoại. Và trên thực tế đã chứng minh hướng đi của Cuba hòa toàn đúng. Số du khách nước ngoài đến thăm Cuba đã tăng lên nhanh chóng, từ 340.000 người năm 1990 tăng lên 741.000 trong năm 1995 và đến năm 1996 lần đầu tiên vượt ngưỡng 1 triệu người.
Chính sách phát triển nông nghiệp đa dạng và hợp thức hóa sử dụng ngoại tệ trên thị trường, khuyến khích kinh tế tư nhân, cả trong kinh doanh du lịch do Đảng và Nhà nước Cuba thực hiện từ năm 1993 đã thực sự làm phong phú thêm các sản phẩm cho ngành du lịch và thu hút ngày càng nhiều du khách bên ngoài muốn đến thăm đất nước tươi đẹp này. Chẳng hạn năm 1998, sản lượng sì gà, một sản phẩm nổi tiếng của Cuba mà người dùng chủ yếu là các ông chủ kinh doanh giàu có của phương Tây, đã tăng 22% so với năm trước và dự kiến đạt 200 triệu điếu vào năm 2000 so với 55,5 triệu điếu năm 1995, 100 triệu điếu năm 1997. Kể từ khi khuyến khích đầu tư nước ngoài, ngành du lịch Cuba đã thu hút hơn 600 triệu USD vốn bên ngoài vào phát triển các cơ sở hạ tầng, tạo ra những điều kiện mới hấp dẫn du khách vào thăm Cuba. Đồng pêsô của Cuba ổn định với tỷ giá 20 pêsô/1USD hiện nay, so với 150 pêsô/1USD trong thời kỳ khó khăn 1991/94 cũng góp phần làm cho thị trường du lịch Cuba hấp dẫn hơn với du khách.
Mới đây, nhằm phát triển du lịch thành ngành kinh tế chủ chốt, Cuba đã đầu tư mạnh phát triển ngành hàng không, mở thêm các chuyến bay trực tiếp từ Cuba tới các thành phố lớn ở châu Mỹ Latinh, châu u, nâng cấp và mở rộng các sân bay ở thủ đô La Habana và Santiago ở miền đông.
Đây là những tiền đồ để du lịch Cuba phát triển trong thế kỷ 21.
Phương Linh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999