Nền văn minh cổ đại sáng chói

Vào giữa thế kỷ thứ 19, F.Stephen – nhà thám hiểm Hoa Kỳ đã phát hiện ra tại Hondurat Trung Mỹ trong một khu rừng già nhiệt đới nhiều di tích, đền đài, lăng tẩm, pháo đài nhiều tàn tích đô thị đổ nát chỉ còn lại những mảng tường và chân móng. Đôi nơi trong rừng rậm còn thấy những trục đường rộng lớn, kiên cố khiến nhiều người nghĩ rằng đó là đường băng hạ cánh của các đĩa bay do những người từ hành tinh khác ngoài trái đất tới thiết kế và xây dựng.
Các nhà khảo cổ đã khai quật, khảo sát các di tích và đi đến kết luận thống nhất, đó là nền văn hóa di tích của nền văn minh cổ đại người Mai – a đã từng tồn tại ở Trung Mỹ vào thế kỷ thứ 3 trước CN. Nền văn minh cổ đại của các bộ tộc người da đỏ Trung Mỹ không kém nền văn minh cổ đại Ai Cập. Người Mai – a có chữ viết, có nền văn hóa phát triển. Họ đã phát minh ra con số 0 ( zê rô = 0) và các số âm, dương. Người Mai – a có trình độ thiên văn cao họ có lịch và các niên biểu. Họ tính một năm có 365 ngày, lẻ gần như phần tư (365, 242195). Nghệ thuật kiến trúc cũng càng phát triển ở trình độ cao.
Vào thời cổ đại, lãnh địa của nước Mai – a bao gồm nửa phía Bắc của Goatemala, một phần của nam Mehico và một phần của Hondurat ngày nay. Vương quốc cổ đại này rộng tới 325.000 km2 tương đương với diện tích Việt Nam.
Dân tộc Mai – a đã từng có một bộ lạc hùng mạnh. Đàn ông là những chiến binh dũng cảm, trồng trọt cũng giỏi, còn phụ nữ chỉ làm nhiệm vụ nội trợ, chăm sóc con cái.
Nền văn minh người Mai – a tồn tại cho đến thế kỷ thứ IX sau CN mà điểm sáng là đồng bằng Pêtin. Đồng bằng này ngày nay chỉ là những cánh rừng nhiệt đới hoang vu với số ít người thổ dân Chirerot con cháu của người Mai – a. Những thổ dân này sống lang thang trong rừng, cạo mủ cây cao su Achras – Zapcia. Họ bị nạn sốt rét rừng, ung thư tấn công và có nghi cơ bị tiêu diệt.
Vì sao dân tộc Mai- a cùng với nền văn minh cổ đại sáng chói lại bị tiêu diệt. Các nhà khoa học , nhất là các nhà khảo cổ đã nêu lên nhiều giả thuyết: phải chăng do nội chiến? do bệnh dịch? Do sự xâm lăng của các dân tộc khác? Nhiều cuộc hội thảo đã tổ chức và giải thuyết của F.Cook nêu lên đã được đã có số các nhà khoa học ủng hộ. Giải thuyết nêu lên như sau:
Người Mai – a có tập quán canh tác phá rừng làm rấy ngô. Họ trồng trọt không có phân bón. Trong điều kiện dân số ngày càng tăng thì thời kỳ nghỉ của đất nương càng rút ngắn lại. Hậu quả là các nương rẫy ngày càng kiệt quệ vạ người Mai – a phải đi tới những khu đất xa nhà, xa làng bản để phá rẫy. Ngày nay con cháu người Mai – a sống ở Goatemala (Chan – côn) cũng lâm vào cảnh đó, họ đi tới những khu rừng xa hàng chục cây số để làm rẫy rất vất vả.
Nỗi khó khăn vất vả đó tăng theo thời gian và các nương rẫy ngày càng xa nơi cư trú. Đến lúc nào đó, họ đành phải bỏ bản làng, di cư đến gần nơi trồng trọt. Họ đi về phía bắc tới bán đảo Uucatan, phía đông và phía nam tới Xanvađo và Honđurat, nam Mêhicô và Hoatemala. Cuộc di cư này xảy ra ở thế kỷ thứ 10 sau CN.
Như vậy là họ đã di chuyển từ trung tâm đất nước tới khắp các địa phương lân cận, kéo dài 1 thế kỷ theo những thời gian khác nhau vì đất đai bị kiệt quệ xảy ra cùng một thời gian trên lãnh địa cũ của họ.
Tại phía Bắc ở bán đảo Yucatan, người Mai – a lại phục hồi nền văn minh. Các làng bản, đền đài mọc lên. Song nền văn minh đó bị thoái hóa dần do nương rẫy bị kiệt quệ và bị tắt hẳn trước sự xâm lăng của người Tây Ban Nha ở Trung Mỹ vào thế kỷ XVI.
Ngày nay, bài học “phá rừng” của người Mai – a và sự trừng phạt của thiên nhiên đang lặp lại ở nhiều nơi trên thế giới. Hoang mạc ngày càng mở rộng, hạn hán lụt lội ngày càng gia tăng, đất đai bị xói mòn, nạn đói, nạn khát nước sạch, bệnh tật v.v… đang là mối đe dọa của mọi người hiện nay trên thế giới.
Nguyễn Thái – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 26 (191) 2001

Lang thang cùng những món ăn đêm ở Huế

Đã từ lâu, khi nhắc đến cố đô ngoài những di sản văn hóa, kiến trúc của một thời vàng son đã làm nên một di sản của thế giới của Việt Nam, người ta không có thể không nói tới những món ăn ẩm thực Huế. Sự nổi tiếng và hấp dẫn của những món ăn nơi đây không chỉ thu hút du khách trong nước mà du khách quốc tế chắc cũng khó lòng quên được. Huế về đêm, sau khi đi nghe ca Huế trên sông Hương , khá đông du khách có nhu cầu ăn uống và đó là lý do cho sự ra đời một chiều…
Dường như lần nào trở về đất mẹ tôi cũng rủ mấy người bạn trong đoàn ca múa cung đình đi uống cà phê đâu đó và sau cùng là lang thang ra mấy quán nhỏ ở góc đường Lê Lợi ăn đêm. Mấy quán ở đây đều có quán cháo gà và bún bò, với tô cháo gà bạn có thể ăn ở Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh cũng thế, nhưng riêng với món bún bò thật hấp dẫn với những sợi bún trắng phau, săn nhỏ bên trên rải những lát thịt tái hoặc chín, cùng với những miếng giò heo vàng sậm. Những cái quyết định tới độ ngon của tô bún bò Huế bao giờ cũng riêng, cũng đặc biệt bởi vị ớt cay xè, ngọt lừ bởi xương ống và mùi thơm hòa quyện của các loại thảo mộc. Hàng đêm, rất đông khách đến khu vực này, trong đó có cả khách tây. Sở dĩ những quán ăn ở nơi này bán được hàng nhiều là do chất lượng ngon, đảm bảo vệ sinh và giá lại rất bình dân chỉ 4 -5 ngàn đồng/ một tô.
ở khu vực cổng chợ Đông Ba hay gần nhà văn hóa Trung tâm thành phố, khách đến ăn rất đông, hơn bất cứ nơi đâu, bởi lẽ nơi này hội tụ đủ người vãng lai từ mọi nơi về buôn bán vặt, lao động kiếm sống. Theo bà Tư chủ gánh bún bò ở cửa nhà Văn hóa, thì nghề bán hàng ăn đêm rất vất vả, nó như con vạc đi kiếm ăn đêm, xong bù lại là cũng kiếm được đồng ra đồng vào. Bà Tư bảo: “Sở dĩ tôi bán ăn đêm là vì thấy mấy năm nay du khách tới Huế đông, nhu cầu ăn lớn mà ban ngày tôi lại không có cửa hàng, của hiệu để buôn bán gì cả…”
Nếu đã từng đến Huế, du khách chắc đã có lần thưởng thức món nem lụi. Món nỳ chỉ là thịt nạc lợn băm nhuyễn trộn với gia vị, nước mắm, hành tiêu… rồi bao viên xiên vào từng que và khi có khách ăn người ta mới nướng cho nóng. Món này không thể ăn ngoài, hoặc vấn với bánh đa nem, chấm với nước lèo và ăn cùng rau sống, chuối xanh, vả… Ở Hà Nội, Sài Gòn ít thấy, vì thế bạn bè về đây tôi thường đưa họ tới món ăn này tại các quán ăn trên đường Nguyễn Huệ. Về đêm những quan nem lụi đông nghẹt khách và đông nhất là các cô cậu học sinh, sinh viên tha hồ mà đãi nhau cũng chỉ vài ba chục ngàn là cùng. Huế có tới hơn 300 món ăn, nhưng bạn nên thử một lần ăn món bánh xanh xem sao?
Đây là món ăn bình dân nhất ở Huế và nó phù hợp với những người lao động có thu nhập thấp. Thế nhưng, món ăn này cũng khiến bao người khá giả nghiện nó. Bánh canh nấu bằng bột mì, bột gạo với da lợn, thịt băm nhuyễn bỏ thêm ít thịt cá rán gỡ xương. Khi ăn rắc tiêu, bột ớt và hành lá thái nhỏ. Chỉ với 10.000 đồng/ tô là bạn đã cảm thấy chắc dạ cho một giấc ngủ đêm.
Nếu muốn chắc dạ hơn khách có thể dùng bữa tối bằng cơm hến tại các quán hay gánh cơm vỉa hè ở phố Bà Huyện Thanh Quan. Cơm hến là món ăn đặc trưng của Huế nhất, vì thế người ta thưởng thức món này không phải là ít và số lượng quán cơm, gánh cơm hến ở Huế đếm cũng không xuể, bởi hầu như phố nào cũng có. Các quán cơm hến thường nghỉ hàng sớm hơn các quán bún, cháo cỡ từ 10 giờ khuya, có lẽ ngay từ buổi chiều tối các gánh hàng cơm đã dọn ra. Cơm hến cũng thực là rẻ chỉ 1.000 đồng / bát bao gồm đầy đủ các món ăn tổng hợp như: cơm trắng, cơm thịt hến, khế chua, đậu phụng rang, dấu mè, bì lợn…Chẳng cần biết cũng biết là từ lâu món cơm hến Huế được xếp vào danh mục những món ăn ẩm thực Việt Nam. Vì vậy đến Huế bạn đừng quên ăn món cơm hến.
Ngoài những món ăn đặc trưng đêm như: cháo gà, bún giò heo, nem lụi, bánh canh và cơm hến… thì Huế về đêm còn có vô số những món bánh như : bánh bèo, bánh khoái, bánh ít, bánh ram, bánh bột lọc… Người Huế quả là tài ba, nhất là các bà, các chị đã chế biến tới hàng trăm loại bánh từ những nguyên liệu thông dụng, rẻ tiền mà lại ngon. Khách có thể ăn bánh về đêm ở bất cứ phố nào trong thành phố vì cũng như cơm hến, các quán bánh mọc lên nhan nhản. Một du khách người Đức cho biết anh đã tới Huế 3 lần rồi và lần nào cũng nhiều món ăn khác nhau nhưng không thể hết được. Anh hy vọng là sẽ đến Huế nhiều lần nữa để thưởng thức các món ăn ở đây.
Huế là xứ sở của những lăng tẩm, đền đài, thành quách và nét sơn thủy hữu tình mọng mơ, nhưng Huế cũng còn là quê hương của những món ăn ngon mang phong vị rất… Huế. Tạm biệt Huế chắc lòng du khách sẽ ít nhiều vương vấn về hương vị của của các món ăn đêm ở thành phố di sản văn hóa thế giới này.
Quang Hiếu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Cho một môi trường du lịch xanh – sạch – đẹp

Bước phát triển của du lịch Hà Nội những năm qua rất đáng khích lệ. Tất nhiên, trong kết quả đó, sự cố gắng tham gia hữu hiệu nhiều ngành mà giao thông công chính (GTCC) là một. Thạc sĩ Nguyễn Văn Dư Trưởng phòng Quản lý giao thông đô thị sẽ giúp bạn đọc hiểu được phần nào về “Cái bắt tay” nhịp nhàng giữa hai ngành GTCC và du lịch Hà Nội trong thời gian qua:
TS. Nguyễn Văn Dư (TS.NVD): Chúng tôi ý thức được du lịch là ngành du lịch mũi nhọn của đất nước cũng như của Thủ đô Hà Nội. Vì thế, cần phải tạo mọi điều kiện để du lịch phát triển. Ngành GTCC luôn chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị theo quy hoạch, kết hợp với các dự án khác nhằm xây dựng thủ đô xanh, sạch, đẹp, là môi trường thuận tiện thu hút du khách trong và ngoài nước. Chỉ riêng năm 2001, ngành đã có kế hoạch dành 3.968 tỷ đồng cho cải tạo, nâng cấp đường, chống úng ngập cục bộ, đảm bảo tỉ lệ chiếu sáng, ùn tắc giao thông v.v…
PV: Một vài kết quả cụ thể thưa ông?
TS. NVD: Ngoài việc tham gia xay dựng khu phố ẩm thực ở Tống Duy Tân, dự án đi bộ khu phố cổ, ngành GTCC cũng chỉ đạo các Công ty vận tải, Công ty phục vụ công ích, quản lý đường v.v…tạo điều kiện tốt nhất cho du lịch. Ở nhiều điểm như Bờ Hồ công ty khai thác điểm đỗ chỉ cho phép xe du lịch được đỗ trong khi các loại xe khác nhau thì không được. Các khách sạn được ưu tiên trong việc cấp nước sạch, hệ thống chiếu sáng, vệ sinh môi trường v.v…Chúng tôi luôn đáp ứng các nhu cầu cần thiết cho du lịch theo khả năng. Nhìn chung, sự phối hợp giữa 2 ngành đã tốt, song kết quả còn chưa tương xứng với sự mong muốn của mỗi ngành.
PV: Trong sự phối hợp đó, thuận lợi là căn bản hay còn nhiều khó khăn?
TS. NVD: Cũng còn khó khăn nhất định. Dự án đi bộ trong khu phố cổ vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau dù đã có nhiều cuộc họp liên ngành vì thế, cần có sự giúp đỡ của ngành trong việc bổ sung, thống nhất trình thành phố phê duyệt dự án, nhằm tạo thêm một điểm thu hút khách du lịch đến với Hà Nội.
PV: Xin ông cho biết thêm một vài dự định của ngành GTCC trong giai đoạn tới, nhằm tiếp tục hỗ trợ, thúc đẩy du lịch Hà Nội đi lên?
TS. NVD: Theo quy hoạch của chính phủ và Ủy ban nhân dân TP đặc phê duyệt các dự án, ngành GTCC sẽ tập trung thực hiện các vấn đề trọng tâm, góp phần đưa du lịch thủ đô không ngừng phát triển: Xây dựng các tuyến đường, nút giao thông trọng điểm, tăng cường duy tu bảo đảm đường sá tốt cho du khách đi lại; thảm bê tông ASPHAL 100% đường nội thành và 70% đường ngoại thành. Nâng cao chất lượng phục vụ ở các bến xe liên tỉnh, các điểm đổ xe công cộng, tạo thuận lợi cho du khách du lịch. Ngành tiếp tục quan tâm nâng cao chất lượng phục vụ cấp nước, tổ chức tốt việc thu gom, vận chuyển xử lý rác. Không thể để rác tồn tại trong ngày. Vấn đề cải tạo, nâng cấp, xây dựng công viên, vườn hoa, khu vui chơi giải trí công cộng, duy trì diện tích cây xanh và nâng cấp từ 3,5m2 cây xanh lên thành 5m2/ người sẽ được quan tâm. Hệ thống chiếu sáng đô thị đảm bảo đạt 95% tại các đường phố chính và 90% tại các ô. Cung với việc duy trì cơ sở hạ tầng dẫn đến các địa danh du lịch, hạn chế tai nạn giao thông, chống ách tắc giao thông trên các tuyến đường phố, ngành GTCC tăng cường tổ chức tốt các tuyến vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, có chất lượng để đáp ứng nhu cầu của nhân dân.
PV: Xin cảm ơn ông.
Ngô Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 24 (189) 2001

Trong công tác đào tạo đại học về du lịch ở Hà Nội

Hiện nay chỉ tính riêng ở Hà Nội đã có 7 trường đại học có đào tạo về du lịch. Hầu hết trong số đó là đào tạo cử nhân chuyên ngành kinh tế du lịch như Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Trường Đại học Thương mại, Viện Đại học mở và các Trường Đại học Dân lập. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đào tạo có tính chất tổng hợp, cấp bằng cử nhân du lịch học. Trường Đại học Văn hóa tuy đã đào tạo liên tục từ năm 1993 đến nay song chuyên ngành Du lịch văn hóa vẫn nằm trong ngành Bảo tồn – Bảo tàng. Theo thống kê sơ bộ, tổng số sinh viên theo học chuyên ngành du lịch trong các trường đại học ở Hà Nội có khoảng 4.500. Như vậy mỗi năm có trên dưới 1.000 cử nhân ra trường. Nếu chỉ tính từ khóa nhập trường 1992 trở lại đây thì ngành đại học du lịch Hà Nội đã “xuất xưởng” gần 3.000 sản phẩm “chính quy”. Đây là một đóng góp tích cực cho sự phát triển du lịch Việt Nam nói chung, Hà Nội nói riêng. Qua phỏng vấn để nhận người vào làm ở một số cơ quan du lịch (lữ hành và lưu trú) chúng tôi thấy nhìn chung sinh viên tốt nghiệp đại học du lịch có nhiều kinh nghiệm nghề nghiệp hơn, mặc dù ít em có được trình độ ngoại ngữ, kỹ năng vi tính như ý muốn. Nhưng điều chúng tôi muốn đề cập ở đây là hiểu biết chuyên môn. Có không ít trường hợp cùng một vấn đề, song sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành du lịch ở các trường khác nhau nhìn nhận theo một cách khác nhau, có khi hoàn toàn không như nhau. Lý do chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là quan niệm của các giảng viên ở các trường có nhiều điểm khác nhau. Đành rằng mỗi cơ sở đào tạo cần xây dựng cho mình một thế mạnh riêng, sắc thái riêng và điều đó tạo nên dấu ấn riêng trong kiến thức của sinh viên, song thiết nghĩ, cũng nên thống nhất những gì là cơ bản, là cốt lõi. Chúng tôi cho rằng đã đến lúc những người tham gia đào tạo nhân lực cho du lịch thủ đô ở mọi cấp nói chung, đào tạo ở bậc đại học nói riêng cần tập hợp lại, thống nhất những nét cơ bản nhất về chuyên môn để sinh viên tốt nghiệp ra trường nhanh chóng tìm thấy tiếng nói chung.
Với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, mang lại lợi ích cho tập thể những người làm công tác giảng dạy đại học du lịch ở Hà Nội, chúng tôi đề nghị thành lập một ban liên lạc cho đội ngũ này. Ban chủ nhiệm các khóa du lịch nên liên kết thường xuyên tổ chức các buổi gặp gỡ giữa cán bộ giảng dạy các cơ sở để cho họ có dịp trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, trao đổi học thuật bổ sung kiến thức cho nhau. Các buổi thông báo khoa học, thông báo thông tin mới về du lịch, trao đổi chuyên môn có thể lần lượt tổ chức ở các trường Kinh tế Quốc dân, Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học mở, Thương mại… Các khoa du lịch chủ động tăng cường hơn nữa việc hợp tác nhiều bên và song phương trong việc giảng dạy, nghiên cứu và hội thảo chuyên môn. Nên có một danh sách cán bộ giảng dạy cùng các môn phụ trách để những người có cùng môn dạy gặp gỡ trao đổi hoặc hỗ trợ nhau (như nhờ dạy hộ nếu có việc đột xuất, nhờ nhận xét luận văn, phản biện báo cáo, hướng dẫn luận văn…). Một hình thức trao đổi thông tin là thành lập một mạng lưới giáo dục du lịch, hay mạng lưới các giáo viên, những người giảng dạy về du lịch trên Internet. Các thành viên tham gia trình bày những suy nghĩ của mình, những khó khăn của mình hoặc nguyện vọng trong công tác giảng dạy du lịch, có thể chỉ bằng vài gạch đầu dòng và gửi vào mạng. Mọi thành viên khác sẽ chia sẻ ý kiến, trao đổi với nhau. Đây là một việc vừa dễ làm, vừa tốn ít kinh phí và đặc biệt vừa đỡ tốn thời gian. Kinh nghiệm của các mạng khác cho thấy cách trao đổi thông tin này rất hữu ích, nhanh chóng.
Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Du lịch và Sở Du lịch Hà Nội mở các đề tài hợp tác giữa các khoa du lịch để cán bộ giảng dạy mọi khoa có điều kiện cọ sát thực tế, nâng cao chất lượng bài giảng. Chúng tôi cho rằng, các cơ quan hữu quan cần quan tâm hơn nữa đến tập thể này thông qua việc tổ chức các hội thảo chung. Đặc biệt, chúng tôi đề nghị với Tổng cục Du lịch thường xuyên cho phép chúng tôi có được những thông tin trong ngành mới nhất. Một ví dụ là các tài liệu thống kê về du lịch thế giới (cuốn Highlights chẳng hạn) do WTO cung cấp vì WTO là tổ chức liên chính phủ nên họ không cung cấp thông tin trực tiếp cho mọi người. Mục đích của các giảng viên chỉ là cập nhật thông tin cho sinh viên, góp phần cung cấp những nhân lực cần thiết, không xa vời thực tế sôi động của ngành du lịch.
Qua tìm hiểu và trao đổi được biết hiện nay rất nhiều nơi nghiên cứu các khía cạnh khác nhau về du lịch. Không ít đề tài nếu kết hợp được với nhau sẽ vừa tiết kiệm tiền, thời gian vừa đỡ đưa ra những kết luận chưa chuẩn xác và ít khả thi. Tuy nhiên, việc truy cập tham khảo các tài liệu này, đặc biệt đối với sinh viên là quá khó. Có lẽ song song với việc xây dựng mạng lưới các giảng viên về du lịch cũng cần xây dựng một thư viện (chí ít cũng là một thư viện trên mạng) về du lịch.
Trần Đức Thanh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(181)2001

Xung quanh việc thêm số cho mạng điện thoại di động

Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam chuẩn bị mở rộng dung lượng số thuê bao của mạng di động MobiFone và Vinaphone trên phạm vi cả nước, bằng cách tăng độ dài thuê bao từ 6 lên 7 chữ số, từ 0 giờ ngày 1/6/2001. Trước sự việc này, nhiều khách hàng đã có ý kiến khác nhau. Vì thế, chúng tôi đã có cuộc thăm dò ý kiến của một số khách hàng và trao đổi với chuyên viên của ngành về vấn đề trên.
Tại sao mạng điện thoại di động phải thêm số?
Mạng điện thoại di động cả nước đã là gần 1 triệu thuê bao, trong khi kho số của cả hai mạng điện thoại di động Vinaphone và MobiFone có khoảng 1,5 triệu số. Với tốc độ phát triển mạnh của mạng di động như hiện nay, nếu không chuẩn bị từ bây giờ, thời gian tới sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Số thuê bao của mạng điện thoại di động đang có 6 chữ số, nếu thêm một chữ số nữa (thêm số 3 vào trước số đầu tiên của mỗi thuê bao. Ví dụ: 0913xxxxxx, 0903xxxxxx) thành 7 số thì dung lượng kho số của mạng sẽ được tăng lên gấp 10 lần. Như vậy sẽ đáp ứng được nhu cầu của xã hội ngày càng tăng về sử dụng điện thoại di động. Ông Bùi Quốc Việt, Giám đốc trung tâm thông tin Bưu điện cho rằng: “Không riêng gì Việt Nam mà trên thế giới cũng vậy, việc phân bổ mã mạng cho một nhà cung cấp dịch vụ theo hướng thay đổi mã đích. Hơn nữa, hơn nữa một nhà khai thác có nhiều mã truy nhập mạng sẽ không công bằng cho các thuê bao, vì họ vẫn phải nhớ mã truy nhập các thuê bao, muốn thông thoại, lúc thì phải quay mã mạng, lúc lại không. Vì vậy biện pháp tốt nhất vẫn là thêm số vào mã thuê bao…”
Dư luận khách hàng
Ông Nguyễn Thành An – Binh đoàn 11, Bộ Quốc phòng (thuê bao 091582926) phản ánh: Nếu thêm số máy điện thoại di động, khách hàng sẽ gặp rất nhiều phiền hà: phải thay đổi điện thoại trên danh thiếp, thông báo lại số điện thoại liên lạc cho các đối tác, bạn bè, họ hàng… Nếu mỗi thuê bao in lại một hộp danh thiếp thì xã hội sẽ tốn tới hàng tỷ đồng. Liệu có thể, các thuê bao cũ cứ để 9 số như hiện nay, sau khi hết số của 090, 091 thì hãy dùng các số 092, 094, 096 (số chẵn cho MobiFone) và 093, 095, 097 (số lẻ cho Vinaphone).
Anh Nguyễn Minh Phương – Tạp chí Lịch sử Đảng (thuê bao 090262810) phản ánh: Việc thêm một con số vào dãy thuê bao đối với những người đã sử dụng điện thoại di động thì không có gì đáng bàn, vì ai cũng phải thêm một số vào thuê bao của mình. Thế nhưng, với những người chưa sử dụng điện thoại di động rất khó khăn vì không được hướng dẫn. Tôi nghĩ, ngành bưu điện nên tuyên truyền rộng rãi hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng để hỗ trợ khách hàng. Nếu chỉ thông báo cho các thuê bao thì mới mang tính chất cục bộ “biết với nhau” mà thôi. Hơn nữa, các hướng dẫn chưa chi tiết.
Còn anh Hoàng Mạnh Hà – Ban Đông Á, Học viện Quan hệ quốc tế (thuê bao 091360336) lại cho rằng: “Nếu mở rộng để khả năng gọi tốt hơn thì tôi hoàn toàn ủng hộ. Ngành bưu điện cũng nên tuyên truyền rộng rãi cho nhân dân biết để sử dụng.
Cũng vấn đề này, anh Đỗ Quang Đông – Công an quận Cầu Giấy (thuê bao 090261950) phát biểu: Việc thêm số vào mạng điện thoại di động cũng chỉ giống thêm số 8 vào đầu mạng thuê bao cố định như trước kia. Nếu có người gọi đến bằng số cũ thì có hướng dẫn cụ thể qua tổng đài nên vài tháng rồi cũng quen.
Nhìn chung, còn nhiều ý kiến chưa đồng nhất trước việc thêm số vào mạng điện thoại di động. Nhưng vấn đề quan trọng vẫn là làm thế nào để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng. Điều này phụ thuộc vào ngành bưu điện.
Bưu điện sẽ làm gì để đảm bảo quyền lợi khách hàng?
Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông đã có kế hoạch thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng 2 đợt, đợt 1 từ 28/2 đến 3/3/2001, đợt hai từ 28/5 đến 4/6/2001. Các Bưu điện tỉnh thông báo trực tiếp cho khách hàng biết việc đổi số trên các hóa đơn cước hàng tháng. Sắp tới, Tổng Công ty sẽ cho thử nghiệm việc gọi 7 số tại cả 3 khu vực. Trong thời gian thử nghiệm, cuộc gọi sẽ được thực hiện ở cả thuê bao 6 số và 7 số. Đồng thời, thực hiện cuộc gọi khi đổi số sẽ có hướng dẫn cách quay số bằng tổng đài tự động. Hiện nay, Tổng Công ty đang làm các thủ tục để thông báo cho GSMAU, ITU và các đối tác trực tiếp có quan hệ với Tổng Công ty. Các chuyên gia kỹ thuật cũng đang hoàn thiện việc nâng cấp tổng đài, chuyển đổi để không xảy ra sự cố nghẽn mạch như nhiều khách hàng tưởng. Đồng thời, để phục vụ cho việc mở rộng dung lượng phục vụ, cước điện thoại di động GSM sẽ được giảm trong 1 tháng, từ 1/6 đến 30/6/2001. Mức giảm là 30% cho các cuộc gọi từ 19 giờ đến 23 giờ hàng ngày.
Thúy Bình – Diệp Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Tour mới Phong Nha – Vĩnh Mốc – Cửa Tùng

Hàng năm, cứ vào dịp hè, các dịch vụ du lịch sôi động hẳn lên. Vào thời gian này, các công ty du lịch luôn có các chương trình đổi mới để chào đón du khách. Năm nay, tour Hà Nội – Đồng Hới – Phong Nha – Hà Nội (5 ngày/ 4 đêm) của công ty du lịch Việt Nam tại Hà Nội có vẻ sôi động hơn cả.
Đến tour này, đến nơi này du khách sẽ được thăm viếng nghĩa trang Trường Sơn tại xã vĩnh Tường, huyện Gia Linh, tỉnh Quảng Trị, Nghĩa Trang Trường Sơn tọa lạc trên một ngọn đồi được bao quanh bởi 8 ngọn đồi khác, như bông hoa 8 cánh, có tổng diện tích 106 ha, là nơi yên nghỉ của 10.327 liệt sĩ. Nghĩa trang Trường Sơn còn có quần thể tượng đài biểu trưng tinh thần chiến đấu anh dũng của đoàn 559 và tình đoàn kết Việt – Lào.
Sau Nghĩa trang Trường Sơn, du khách sẽ được làm quen với thành phố Đồng Hới – Quảng Bình nơi được vua Minh Mạng cho xây dựng vào năm 1824. Thành có chu vi 1.872 m, mặt thành rộng 1,2 m, cao 4,6 m. Thành có 3 cửa là Tả, Hữu, Hậu xây bằng gạch. Dấu tích của thành Đồng Hới còn lại khoảng 500 m.
Cũng nằm trong tour này, địa đạo Vĩnh Mốc – Quảng Trị là công trình độc đáo của làng quê Vĩnh Linh được hình thành trong thời kỳ chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược. Với hàng ngàn mét đường hầm và các tiểu đạo xuyên lòng đất cùng hàng ngàn mét giao thông hào chiến đấu, địa đạo Vĩnh Mốc là một hệ thống liên hoàn được kết nối với nhau bằng 13 cửa ra vào 7 cửa thông ra biển và 6 cửa thông lên đồi. Đại đạo Vĩnh Mốc là một hình ảnh thu nhỏ của một làng quê được xây dựng và kiến tạo trong lòng đất là nơi sinh hoạt, ăn ở, phòng tránh bom đạn an toàn cho nhân dân, vừa là nơi đóng trụ sở của chính quyền, kho hậu cần cất giữ lương thực, vũ khí chi viện cho côn đảo Cồn Cỏ và chiến trường Miền Nam, đồng thời cũng là trận địa chiến đấu trực tiếp để giữ vững vùng đất thép Vĩnh Linh anh hùng từ năm 1966 đến năm 1972. Đến với Vĩnh Mốc hôm nay, các bạn như được sống lại một thời oanh liệt hào hùng với những con người lịch sử đã làm nên kỳ tích đó.
Rời di tích lịch sử Vĩnh Mốc, bạn sẽ được thả mình thư giãn ở bãi biển Cửa Tùng, một bãi biển đẹp, nơi nghỉ mát lý tưởng của tỉnh Quảng Trị. Bãi tắm không rộng và dài nhưng mang một vẻ đẹp rất riêng. Bãi biển bằng phẳng, nước trong xanh, cát mịn. Biển lúc nào cũng lộng gió. Cửa Tùng như một bức tranh sinh động, thay đổi màu sắc từng giờ dưới ánh nắng mặt trời. Thật thú vị khi được ngồi trên thuyền xuôi dòng Bến Hải để ngắm nhìn cảnh sắc nơi đây. Từ chân cầu Hiền Lương, thuyền sẽ đưa du khách lướt nhẹ trên dòng nước trong xanh, sóng gợn lăn tăn, rì rào gió thổi. Dọc hai bên bờ sông là cảnh làng xóm với màu xanh mướt của những ruộng lúa, ngô màu xanh đậm của các lũy tre, các rặng phi lao. Vào buổi chiều tà, du khách cũng có thể thỏa sức ngắm nhìn những đàn hải âu nhơn thơ chao liệng đùa giỡn trên những làn sóng thẳm xanh. Đêm đến là thời gian của gió trời và nhạc biển, sẵn sàng đưa du khách vào giấc ngủ êm đềm.
Kết thúc tour, du khách được đi thuyền thăm động Phong Nha, Quảng Bình, nơi có các hang động kỳ vĩ lạ lùng, huyền ảo mà ít hang động nào trên thế giới có được.
Với giá 998.000 đồng/ khách cho đoàn 20 người trở lên, tour Hà Nội – Đồng Hới – Phong Nha – Hà Nội hiện nay đang là tour hấp dẫn du khách gần xa.
Di chuyển đàn voi ở Bình Thuận.
Trong thời gian từ 13/5 đến 30/05/2001, đàn voi rừng khoảng 9 con ở xã Suối Kiết huyện Tánh Linh, xã Tân Linh huyện Hàm Tân và khu bảo tồn Biển Lạc – Núi Ông tỉnh Bình Thuận thường xuyên kéo vào khu dân cư và đã giẫm chết 10 người, phá hoại nhiều nhà cửa, hoa màu. Trước tình hình đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức cuộc họp do Thứ Trưởng Nguyễn Văn Đẳng chủ trì bàn về việc di chuyển đàn voi. Các chuyên gia đã đưa ra 3 phương án là : Đàn voi về Bản Đôn Đắk Lắk, đàn voi về vườn quốc gia tá Tiên Đồng Nai, và trong trường hợp cả hai phương án không thực hiện được thì sẽ bắt đàn voi để tránh trường hợp chúng tiếp tục gây chết người. Phương án di dời với về Bản Đôn được đánh giá là tối ưu, với chi phí ước tính 3,5 tỷ đồng và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cần xin ngay kinh phí nhà nước để thực hiện, không để chúng gây thêm những thiệt hại về người và của.
Lễ ghi nhận những đóng góp của thành viên GEF/SGF
Chương trình phát triển Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNDP), quỹ môi trường toàn cầu (GEF) và chương trình tài trợ các dự án nhỏ tại Việt Nam (SGF) vừa phối hợp tổ chức lễ ghi nhận những đóng góp tình nguyện của các thành viên Ban chỉ đạo Quốc Gia GEF/SGF trong việc bảo vệ môi trường và ký kết 6 dự án mới trong khuôn khổ chương trình GEF/SGF. Đến dự buổi lễ có ông Bùi Mạnh Hải Thứ trưởng bộ Khoa học Công nghệ & môi trường; ông Dewulf Maurce phó đại diện thường trú của UNDP tại Việt Nam và ác thành viên Ban chỉ đạo Quốc gia GEF/SGF. Thay mặt UNDP, ông Dewulf Maurce đã trao đổi và ghi nhận những đóng góp của các thành viên Ban chỉ đạo quốc gia GEF/SGF và ký thư thỏa thuận giữa UNDP Việt Nam với các tổ chức tiếp nhận tài trợ.
Thúy Thúy – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 23 (188) 2001

Tìm mô hình cho doanh nghiệp nhà nước trong hoạt động du lịch

Việc chuyển đổi hoạt động du lịch sang cơ chế thị trường có điều tiết của nhà nước đã xuất hiện một số vấn đề cần quan tâm:
Chấp nhận hoạt động của nền kinh tế nhiều thành phần đã dẫn đến sự đa dạng hóa hình thức sở hữu và loại hình doanh nghiệp trong hoạt động du lịch: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài dưới hình thức công ty liên doanh hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư 100% của nước ngoài. Từ đó tác động đến sự hình thành hai thái cực.
Nhìn chung, các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả. Tỷ lệ các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao, tăng tích lũy cho nhà nước, cải thiện mức sống cho người lao động chưa đạt 15%, thậm chí nhiều doanh nghiệp khó bảo toàn được vốn, đang trong tình trạng tụt hậu, có nhiều nguy cơ bị giải thể.
Các doanh nghiệp du lịch nhà nước chủ yếu có quy mô nhỏ, do vậy rất khó khăn trong việc tìm kiếm thị trường tham gia hội chợ quốc tế, quảng cáo nước ngoài cũng như đào tạo bồi dưỡng lại lực lượng lao động để đáp ứng yêu cầu mới.
Trong sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, những doanh nghiệp lớn có tiềm lực tài chính thường giành thắng lợi hoặc dễ thoát ra khỏi những thời khắc khó khăn của thị trường. Đó là lợi thế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đặc biệt là những doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài nên có thuận lợi cơ bản chiếm lĩnh thị trường du lịch Việt Nam.
Trên lĩnh vực kinh doanh dịch vụ lưu trú, cán cân đã nghiêng về phía các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Học chiếm thị phần rộng lớn hơn. Có thể nêu một vài ví dụ: ở Hà Nội đó là khách sạn 5 sao Daewoo, Meliá, Hilton, Metropole, Horizon, Meritus… Ở thành phố Hồ Chí Minh: Ommi, New World, Equatorial, Royal… Ở Đà Lạt: Palace, ở Phan Thiết: Novotel, ở Sapa: Victoria… Trong khi các khách sạn loại này luôn đầy ắp khách, có công suất sử dụng trên 80% thì các khách sạn quốc doanh công suất sử dụng thường xuyên dưới 50%, cá biệt có khách sạn chỉ đạt dưới 30%. Khách sạn Thắng Lợi của Hà Nội đã từng có thời kỳ phải thường xuyên từ chối khách hàng, nay trong thời buổi kinh tế thị trường luôn trong tình trạng “đói”. Khách sạn Dân Chủ, Hòa Bình của Hà Nội, khách sạn Hữu Nghị ở Hải Phòng cũng trong hoàn cảnh như khách sạn Thắng Lợi.
Hoạt động lữ hành tuy có khá hơn nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế và khó khăn: Cạnh tranh gay gắt hơn và thiếu lành mạnh, môi trường kinh doanh lộn xộn. Tận dụng hoàn cảnh này các hãng đối tác nước ngoài ép giá. Tình trạng kinh doanh lữ hành trái phép, núp bóng dưới dạng đại lý… diễn ra phức tạp. Không thiếu hiện tượng hoạt động trái pháp luật, phá giá, trốn thuế, tiếp tay cho các doanh nghiệp nước ngoài gây xáo trộn thị trường tác động ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc.
Bên cạnh đó công tác quản lý nhà nước về du lịch theo vùng và lãnh thổ còn nhiều bất cập dẫn đến nhiều doanh nghiệp vi phạm pháp luật, coi thường kỷ cương phép nước (núp dưới hình thức tổ chức đi du lịch nước ngoài hoặc xuất khẩu lao động để tổ chức vượt biên trái phép), chính sách thuế, chế độ tiền lương chưa khuyến khích các doanh nghiệp làm ăn giỏi… Đứng trước hiện trạng như trên ngành du lịch cần có giải pháp gì để đưa du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước?
Nên chăng xây dựng mô hình tập đoàn du lịch có sức mạnh tài chính, có hệ thống cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu của sự phát triển, đủ điều kiện chấp nhận cạnh tranh và có những giải pháp thị trường hợp lý để các doanh nghiệp du lịch nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Xin được gợi ý hai mô hình tổ chức Tổng Công ty:
Theo hướng tập trung hóa liên kết dọc những doanh nghiệp cùng loại sẽ trở thành các công ty thành viên của các Tổng Công ty: Tổng Công ty khách sạn, Tổng Công ty vận chuyển khách…
Theo hướng tập trung liên kết ngang những doanh nghiệp du lịch có mối quan hệ mật thiết tập trung thành các Tổng Công ty như mô hình Tổng Công ty Du lịch Việt Nam giai đoạn 1990 – 1993, mô hình của Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn hiện nay.
Mong được cùng trao đổi với tâm huyết đưa du lịch Việt Nam phát triển.
Sôi động mùa lễ hội vía bà núi sam
Lễ hội vía Bà núi Sam năm nay được nâng cấp thành một trong 15 lễ hội quốc gia, do đó, lượng khách cũng sẽ tăng đột biến. Phải thừa nhận chính quyền và các ngành chức năng địa phương đã nỗ lực đầu tư và giữ gìn an ninh trật tự. Ở núi Sam, hàng quán các loại phải niêm yết giá bán. Hành khất có nơi cho ăn, ở là nhà nuôi dưỡng người già, trẻ mồ côi. Có bãi giữ xe đầu tư hàng tỷ đồng đảm bảo an toàn cho xe cho khách và giữ đúng giá quy định. Có chỗ đãi cơm chay cho mọi người ăn khi về tham quan… Nhưng để lễ hội diễn ra tốt đẹp, nơi tham quan, cúng lễ trong sạch thì các ngành chức năng và chính quyền địa phương còn phải vất vả và kiên quyết hơn nữa, nhất là khi năm nay, du khách đến hội sẽ đông hơn rất nhiều.
Trần Văn Mậu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Sự kiện tiêu biểu của du lịch

Mười sự kiện tiêu biểu của ngành du lịch năm 2000, hội xuân Du lịch – Văn hóa Việt Nam năm 2000 diễn ra từ ngày 26/1 đến 2/2 tại Hà Nội, do Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa – Thông tin và Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức. Đây là sự kiện mở đầu cho việc triển khai thực hiện nội dung tuyên truyền quảng bá du lịch và gắn hoạt động du lịch với các lễ hội văn hóa dân tộc. Tại đây, tính đa dạng phong phú của nền văn hóa truyền thống Việt Nam đã được thể hiện bằng nhiều thể loại mang đậm màu sắc đặc trưng của các dân tộc, địa phương. Đồng thời khẳng định đó là tiềm năng đặc trưng của du lịch Việt Nam.
Festival Huế 2000 diễn ra từ ngày 8 đến 19/ 4 đã thu hút hàng chục ngàn khách du lịch trong nước và quốc tế. Tổng cục Du lịch là thành viên chính của Ban tổ chức, cùng với sự tham gia trực tiếp của các đơn vị thuộc ngành du lịch Thừa – Thiên – Huế. Đây không chỉ là cuộc trình diễn quy mô lớn về nét đặc trưng của văn hóa Huế, mà còn là cuộc biểu dương những tinh hoa văn hóa dân tộc, một lễ hội văn hóa, du lịch mang tầm cỡ quốc tế. Festival Huế 2000 đồng thời là cơ hội tuyên truyền quảng bá của ngành Du lịch Việt Nam nói chung và Du lịch Thừa Thiên – huế nói riêng.
Ngày 30/ 3, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 07/ 2000/ CT – CP gửi các Bộ, ngành, các cấp chính quyền địa phương, nhằm tăng cường giữ gìn trật tự trị an và vệ sinh môi trường tại các điểm tham quan, du lịch. Quán triệt tinh thần chỉ thị các ngành, các địa phương, nhất là các địa phương có các di tích, thắng cảnh phục vụ khách du lịch tham quan, các trung tâm du lịch, các thành phố lớn… đã sắp xếp lại hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch tại địa bàn, chấn chỉnh các hoạt động sản xuất mua bán, trao đổi các mặt hàng phục vụ khách du lịch… Đã có sự phối hợp giữa các ngành, các cấp chính quyền khắc phục các tệ nạn xã hội tại các điểm, trung tâm du lịch, làm lành mạnh môi trường du lịch.
Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập ngành Du lịch Việt Nam (9/7/1960 – 9/7/2000) được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 8 – 7. Phó thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm, Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về Phát triển Du lịch đã tới dự và biểu dương những thành tựu của ngành Du lịch qua 40 năm xây dựng và trưởng thành. Nhân dịp này, Tổng cục Du lịch đã tổ chức Hội thi hướng dẫn viên Du lịch lần thứ nhất, gồm hơn 100 thí sinh từ các đơn vị, doanh nghiệp Du lịch trên cả nước tham dự; tổng kết phong trào thi đua toàn ngành năm 1999 cho 10 công ty lữ hành quốc tế và 10 khách sạn tiêu biểu trên cả nước.
Ngày 25 và 26/ 7, tại thành phố Đà Nẵng Chi hội P T Việt Nam đã tổ chức Đại hội thường niên lần thứ 6, kết thúc nhiệm kỳ 1998 – 2000. Tại Đại hội này, PATA Việt Nam đã khẳng định vai trò của mình trong việc phối hợp cùng Tổng cục Du lịch và các cơ quan liên tục thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền quảng bá du lịch, triển khai Chương trình hành động quốc gia về Du lịch. Đại hội đã bầu Ban chấp hành nhiệm kỳ mới gồm 15 thành viên, do Phó tổng cục trưởng TCDL Phạm Từ làm Chủ tịch.
Ngày 24/ 8, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị định số 39/ 2000/ NĐ – CP về cơ sở lưu trú du lịch. Đây là văn bản pháp lý quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh cơ sở lưu trú du lịch, đồng thời nâng cao hiệu quả về quản lý Nhà nước đối với loại hình kinh doanh này. Nghị định này cụ thể hóa những quy định trong Pháp lệnh Du lịch về cơ sở lưu trú, tạo cơ sở pháp lý để chuẩn bị hóa chất lượng dịch vụ và ngành nghề kinh doanh.
Ngày 5 và 6/11, Đoàn cấp cao Bộ du lịch Tahis Lan do ông Adisain Bodharamik, Bộ trưởng văn phòng Thủ tướng, Chủ tịch cơ quan Du lịch quốc gia Thái Lan, dẫn đầu đã sang thăm và làm việc tại Việt Nam. Tổng cục trưởng Võ Thị Thắng đã ký biên bản ghi nhớ phiên họp, mở ra nhiều vấn đề cùng quan tâm thực hiện, nhằm tăng cường hợp tác có hiệu quả về Du lịch giữa hai nước và với các nước khác trong khu vực.
Từ ngày 28/11 đến 1/12, Đoàn cấp cao Cục Du lịch quốc gia Trung Quốc do Phó Cục trưởng Tôn Cương dẫn đầu đã sang và làm việc tại Việt Nam. Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ dẫn đầu đoàn cấp cao tổng cục du lịch Việt Nam đã tiếp và hội đàm với Đoàn. Hai bên đã thỏa thuận và ký biên bản ghi nhớ về Việt Nam – Điểm đến của công dân Trung Quốc. Bản ghi nhớ gồm 9 vấn đề liên quan tới cả hai bên, nhằm nâng cao chất lượng phục vụ công dân Trung Quốc đi du lịch Việt Nam bằng tiền riêng của mình.
Ngày 8/ 12, tại cửa khẩu sân bay quốc tế Nội Bài. Tổng cục Du lịch và Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã tổ chức lễ đón khách du lịch quốc tế thứ 2 triệu đến Việt Nam trong năm 2000, hoàn thành chỉ tiêu đón 2 triệu khách quốc tế của toàn ngành Du lịch trong năm 2000. Vị khách thứ 2 triệu là cô Vilard Karine, quốc tịch Pháp, đến từ Paris theo tour của Công ty du lịch Thành phố Hồ Chí Minh thuộc tổng công ty Du lịch Thành phố Du lịch Sài Gòn. Tại lễ đón, Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ đã phát biểu, đại ý: Năm 1994, du lịch Việt Nam đón khách quốc tế thứ 1 triệu, đến năm 2000, đón khách thứ 2 triệu. Nhưng không đợi đến 6 năm, chúng ta sẽ đón khách quốc tế thứ 3 triệu, 4 triệu.
Nguyễn Chất – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Không ăn tết ở nhà

Người đã 10 năm không ăn tết ở nhà – những người không ăn tết ở nhà, Phùng Văn Khải làm nghề hướng dẫn viên du lịch đã 10 năm ở công ty du lịch Hà Nội, nhưng có tới 10 năm anh không ăn Tết ở nhà. Không chỉ có chuyện anh không ăn Tết ở nhà, nhiều dịp nay khác cũng đành bỏ lỡ,vì “nặng tình” với khách.
Hồi tháng 5 – 2000, sau khi cuộc thi Hướng dẫn viên du lịch toàn quốc do Tổng cục Du lịch tổ chức anh đoạt giải nhất, được một vé du lịch Trung Quốc. Nhưng cũng chẳng kịp đi vì bận đưa khách đi Châu âu, sang Pháp, Hà Lan, Bỉ.
Lần trò chuyện với anh trong lúc đợi khách đi tour Hòa Bình anh nói với tôi:
– Chị có tin không thì tùy, có người cho rằng nghề hướng dẫn viên của chúng tôi thật sướng, đi khắp năm châu, bốn biển. Năm châu thì chưa, nhưng bốn biển thì tôi đã đặt chân đến được rồi.
Trong túi anh có một xấp thư và ảnh của du khách gửi tặng, ảnh anh chụp kỷ niệm với khách, ảnh chụp danh lam thắng cảnh, sinh hoạt của con người ở nhiều xứ sở anh đã từng qua. Rồi thư. Những dòng đầy ưu ái, với Việt Nam của khách Pháp, khách Bỉ, khách Đức, khách Italia… có người còn bầy tỏ biết ơn anh vì anh đã dậy họ cách thổi khèn Mèo.
– Anh có thể kể cho tôi nghe về một vài tết anh không ở nhà với gia đình?
– Cái nghề hướng dẫn viên phải sống quanh năm trên đường, thế mà vẫn không thể “làm quen” được với những ngày Tết xa nhà đâu chị ạ. Vào dịp Tết, nhớ nhà làm sao. Có một giao thừa, tôi đang cùng đoàn khách nước ngoài lên Phong Thổ, Lai Châu. Trời rét că, căm, ăn cơm rồi mà vẫn có cảm giác đói cồn cào. Thì ra là cồn cào vì nhớ. Tôi gọi điện về nhà, vốn đã quen tiếng của cha già và tiếng vợ con mình, vậy mà tết đến nghe thấy giọng nói của nhau bỗng thấy lạ. Có cái gì thiêng liêng, da diết, khác thường Lại có Tết tôi đưa đoàn đi Sapa, trong thời tiết rất rét, lại cơ cực vì xe trục trặc dọc đường. Tôi đã đưa đoàn vào một nhà dân nhờ họ mua cho máy món bánh khoai, bánh nếp, bánh tầy, nhìn khách ăn ngon miệng mà lòng mình ấm áp hẳn lên, nhân đó tranh thủ giới thiệu với khách ý nghĩa hương vị đặc sắc của các thứ bánh trái ngày Tết ở Việt Nam.
Có một dịp Tết, tôi đang đưa khách đi thăm Huế. Sau khi thăm cố cung về, tôi thắp nến thả đèn dưới sông Hương cho đỡ nhớ nhà. Nhưng cứ thắp lên là ngọn nến phụt tắt. Tôi thắp tới 3 lần, nến vẫn tắt. Đến lúc về khách sạn, vợ tôi gọi điện báo cha tôi đang ốm rất nguy kịch ở nhà. Tôi không mê tín, nhưng chỉ giải thích hiện tượng ấy là như thế nào? Ấy vậy mà sáng hôm sau vẫn phải cố giấu lo buồn trong lòng để đưa khách đi tham quan các lăng tẩm.
Lại có một cái Tết đưa khách sang Pháp, tôi rất sung sướng ôm một ôm sách, nào là Rousse, nào sách viết về các đất nước Hy Lạp, Trung Quốc, toàn những sách rất hay, rất hiếm đem về Làm nghề này, không ham độc, ham học, thì … nguy to.
Thế là trong đời hướng dẫn viên du lịch của Phùng Văn Khải lại sắp có thêm cái Tết thứ 11 phải xa nhà. Nhưng tôi tin, với lòng mến mộ của du khách sẽ bù đắp lại những thiệt thòi của anh. Anh không được đón xuân với gia đình để mang niềm vui đến cho những người từ nhiều phương tới, nhiều xứ sở đến vui xuân ở Việt Nam.
Thơ Thăm Vạn Lý Trường Thành
Đến Vạn Lý Trường Thành đâu phải ai cũng là hảo hán?
Mình chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi
Không tiếng ngựa phi, gươm khua, kiếm chem.
Vẫn rùng mình nghe máy chảy đầu rơi.
Bao thế kỷ đau đớn người với người thù hận
Sao sớm mai này cây lá cứ xanh tươi?
Lọt thỏm giữa trăm sắc màu tấp nập
Mình nghẹn ngào dấu lặng đứng im thôi.
Câu
Thăm thẳm cá chờ anh dưới nước
Thăm thẳm thời gian võng trên sợi cước
Anh thả mình trên cỏ thật êm
Lùa ý nghĩ vào chiếc phao câm lặng.
Thăm thẳm cá chưa về với anh
Thăm thẳm thời gian đã vì anh ngã bóng
Chiều nghiêng xuống mặt hồ sẫm gió
Xuân mưa mưa thoáng ướt vẻ anh cười.
Náo nức chợ tình
Em mải miết dệt hoa văn thổ cẩm
Mắt đong đưa sợi thắm giăng hình
Xuân ngấp nghé rủ em xuống núi
Biết lòng ai đang náo nức chợ tình?
Chim ríu rít rung cành tơ xóm bản
Gió đa tình ve vuốt nhụy phong lan
Ong gõ cửa nụ hồng chưa mở cánh
Tiếng khèn ai ươm hỏi giọng mơ màng?
Nhạc ngựa rung rinh – đường tấp nập
Muốn ngồi chung – e chúng bạn cười
Ước khoảng trời riêng – xuân tình tự
Một cánh ô xòe… che lứa đôi…
Đêm trăng Cần Thơ
Trăng vàng chín đêm
Mênh mang sông lên
Miệt vườn bừng dậy
Cỏ mây múa nhảy
Hương thơm tràn đầy…
Đất trời hây hây
Ngất ngây thành phố
Chếch choáng tôi say
Bay cùng ngọn gió!
Hồn tôi hạ cánh
Vé hạng nhất Lùthansa
Hồng nhung bạn tặng bông hoa nở chiều
Động tiên ngỡ ngàng gặp Giáng Kiều
Tóc vàng như nắng đốt thiêu muộn phiền
Phải đầu Từ Thức lêm tiên
Trần gian nhũ bụi nhẵng quên đường về.
Giật mình cơn tỉnh cơn mê
Lang thang mây xốp bốn bề quanh tôi.
Bâng khuâng lòng dạ bồi hồi
Trời ơi Hà Nội xa xôi quá chừng
Trên mây lớp lớp từng từng
Hồn tôi hạ cánh hôn chừng mắt em.
Chơi xuân trên sông
Chiều xuân mây lượn đáy sông
Ngồi thuyền như thể cưỡi dòng mây trôi
Chập chờn sóng nước xa xôi
Những con cò trắng sánh đôi diu dàng
Gom xuân từ cõi mây ngàn
Chất trên đồi cánh mênh mang bay về.
Vân Hổ – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Hội chợ “treo đầu dê…” hay sao?

Cầm giấy mời đến “Hội chợ hàng tiêu dùng Việt Nam” vào sáng ngày 19/4/2001, tôi hào hứng gác việc lại, đến ngay Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam (Giảng Võ – Hà Nội), hy vọng tìm hiểu thêm về thị trường hàng tiêu dùng Việt Nam có gì mới lạ, nếu có thể mua một vài sản phẩm phù hợp.
Mới 10 giờ sáng của ngày khai mạc mà khách hàng xem chừng không đông lắm. Tôi lướt qua các gian hàng để “bổ túc mắt”, mong muốn được ngắm nghía các sản phẩm độc đáo, phong phú… Nhưng, tôi đã thất vọng, vì hàng hóa vẫn na ná các hội chợ khác đã được tổ chức nhiều lần, tại đây, cả về chất lượng, mẫu mã, lẫn giá cả chẳng hề rẻ và cũng không có sự độc đáo!
Tôi ghé vào một gian hàng bán bánh kẹo. Nhìn thấy những gói thạch đủ hình thù hoa quả, con giống với màu sắc rất đẹp, nghỉ là sản phẩm ở miền Nam nên tôi chọn mua 1 gói, định về sẽ khoe với cả nhà nên tôi cẩn thận hỏi cô bán hàng:
Loại thạch này của tỉnh nào đấy chị?
Cô bán hàng cho biết đó là hàng của Thái Lan, mà tôi vốn sợ loại hàng này không biết có được kiểm nghiệm chặt chẽ không? Chả lẽ rút lại tiền? “Chắc là đồ dành cho trẻ em người ta mới “lai” một chút của ngoại vào cho dễ bán thôi, còn các mặt hàng khác hẳn sẽ toàn đồ nội.” Nghĩ vậy, tôi đến một gian đồ điện. Cô bán hàng duyên dáng giới thiệu với tôi và mọi người một chiếc quạt có lồng nhựa khá to, rằng đó là “sản phẩm mới ra mắt” của Công ty. Tôi suýt phì cười vì loại quạt này là của Trung Quốc và nhà cậu em tôi đã dùng từ mùa hè năm ngoái. Tôi hỏi thêm:
Quạt của Công ty cô hay của Trung Quốc?
Của Trung Quốc nhưng Công ty em mới nhập về!
Cô gái trả lời không do dự! Còn tôi cũng không do dự bỏ đi. Tôi chuyển “kênh”, dạo sang gian hàng gia dụng. Những bộ đồ nấu bếp ga xinh xắn và bóng láng của Công ty Trách nhiệm hữu hạng sản xuất, và dịch vụ thương mại BNB thu hút sự chú ý của tôi. Hỏi giá, thấy quá đắt so với bộ đồ nấu bếp của Nasteelvina (hàng nội) bày ở siêu thị, tôi thắc mắc thì được mấy nhân viên bán hàng cho biết: vì là sản phẩm của Hàn Quốc! Tôi đành bước sang gian hàng bên cạnh của Công ty Xuất nhập khẩu Hoàn Kiếm, nhưng những đồ thủy tinh lộng lẫy cũng đều là của Pháp!
Tôi băn khoăn nhìn lại giấy mời một lần nữa. Hàng chữ “Hội chợ hàng tiêu dùng Việt Nam” in rõ cả hai mặt, thậm chí, 2 chữ Việt Nam còn được in to, rõ nét. Vậy mà sao đến chỗ nào cũng “vấp” phải đồ ngoại? Không lẽ, các nhà tổ chức “treo đầu dê, bán thịt chó” hay sao? Vẻ như những người có trách nhiệm chỉ quan tâm đổi tên gọi của hội chợ để thu hút khách mà không cần biết nội dung có đúng với tiêu chí đưa ra hay không? Vì thế, không ít người đã thất vọng và chẳng muốn đến hội chợ nữa kìa! Thà cứ có tiêu đề là “hàng tiêu dùng” chung chung cho mọi người đi hội chợ dễ liệu và đỡ băn khoăn!
Người tiêu dùng Việt Nam giờ đây rất muốn sử dụng các loại hàng nội khi nhiều mặt hàng vừa có chất lượng cao vừa có giá hợp lý. Nhiều du khách cũng rất muốn qua hội chợ hàng tiêu dùng Việt Nam để tìm hiểu và mua những sản phẩm đặc sắc của Việt Nam để làm quà. Nhưng, sự thực đã không phải như lời giới thiệu. Chả lẽ không thể tổ chức một cuộc triển lãm hàng tiêu dùng Việt Nam 100% được ư? Nhất là khi, các ngành nghề trong nước đã và đang trong đà khôi phục. Vấn đề này nếu có sự chụm đầu bàn bạc của những người tổ chức triển lãm cùng với các nhà sản xuất, hẳn sẽ có câu trả lời!
Vịnh hạ long được công nhận di sản thiên nhiên thế giới lần 2
Sáng 30/4 tại Bãi Cháy (Quảng Ninh), Ủy ban nhân dân tỉnh đã làm lễ đón nhận Bằng Công nhận vịnh Hạ Long là Di sản thiên nhiên thế giới lần thứ 2. Tới dự có Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm – Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về Du lịch, đại diện một số Bộ, ban ngành của Trung ương và nhiều đoàn khách quốc tế, hàng vạn khách du lịch trong nước và nhiều quốc tịch khác nhau cùng có mặt trong buổi lễ long trọng này để chia vui với Quảng Ninh nói riêng và Việt Nam nói chung.
Sau bài phát biểu đầy tâm huyết, vị đại diện UNESCO đã trân trọng giao tấm Bằng Công nhận vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới lần thứ 2 (bởi giá trị địa chất, địa mạo ngoại hạng toàn cầu) cho ông Hà Văn Hiền, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Sự kiện này càng tăng thêm tính quan trọng và lực hấp dẫn không gì cưỡng nỗi đối với du khách bốn phương.
Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 18(181)2001