Lũy Thầy – dấu ấn một tài năng quân sự

Đào Duy Từ sinh ra giữa thời hai tập đoàn phong kiến, chúa Trịnh ở ngoài Bắc và chúa Nguyễn ở trong Nam mâu thuẫn nhau quyết liệt. Ông người làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Ông học rộng, có tài hùng biện, giỏi cầm quân, văn võ toàn tài, nhưng lại không được đi thi chỉ vì cha là Đào Bá Hán làm nghề xướng hát.
Luật lệ hà khắc và bất công ấy khiến chí làm trai của Đào Duy Từ không chịu nổi. Năm 1625, nhân lúc chúa Nguyễn có chính sách chiêu hiền đãi sĩ, Đào Duy Từ quyết rời bỏ quê nhà, vào Nam tìm cách thực hiện chí lớn của mình. Đường xá xa xôi, đầu thế kỷ 17, người từ làng lên tới phủ huyện cũng đã là sự kiện, Đào Duy Từ quyết bôn ba dặm trường. Ông vượt qua vùng đất Quảng Bình là địa danh luôn diễn ra những trận quyết chiến giữa quân Đàng trong và Đàng ngoài. Ông qua phủ Thừa Thiên, qua Quảng Nam và vào tận Bình Định đi ở chăn trâu cho một phú gia ở phủ Hoài Nhơn. Mặc dầu phải chịu sự hèn mọn của kẻ làm thuê ông vẫn nuôi khát vọng động trời khuấy nước. Ông coi hành vi này như là ở ẩn chờ thời và đã làm bài thơ “Ngọa long cương” tự ví mình với Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Qua bài thơ, quan Khâm Lý, Trần Đức Hòa biết Từ là người có học, có chí, có tài bèn đem về làm gia sư và gả con gái cho. Rồi nhờ quan Khâm Lý tiến cử Từ được chúa Nguyễn Phúc Nguyên, còn gọi là Sãi Vương gọi vào chầu.. Vừa tới cửa ông thấy Sãi Vương mặc thường phục, áo trắng, dép nâu, ra đón, liền lập tức tần ngần đứng lại. “Nhà chúa đã không coi ta ra gì – Ông nghĩ – Nhà chúa đối xử với ta như kẻ ăn, người ở sai việc trong gia thất”. Nhưng Sãi Vương là người đang cầu tài hiểu ngay thái độ lần khần của Từ. Ông vội quay vào phòng mặc phẩm phục rồi mới trở ra. Từ lập tức quỳ lạy. Buổi tiếp kiến ấy Sãi Vương hỏi điều gì Từ cũng tâu bẩm rành mạch. Nhà chúa khen ngợi và cho sang chức Nha úy, sau được thăng Nội tán và phong tước Lội Khê hầu, khi chết được phong Hoằng Quốc Công.
Năm 1627, Trịnh Tráng sai người mang thư vào đòi Nguyễn Phúc Nguyên phải nộp 30 thớt voi, 30 chiến thuyền và cho con ra chầu vua để làm tin. Yêu sách đó bị bác. Trịnh Tráng tức giận liền đích thân đem quân thủy bộ hùng hậu có vua Lê đi cùng vào đánh. Quân Trịnh lại thua, quân Đàng trong thắng. Nhưng nhà Nguyễn vẫn không yên lòng vì biết mình thế yếu. Tháng 2 năm 1630 Đào Duy Từ vào chầu Sãi Vương và tâu:
-Muốn mưu đồ đại nghiệp bá vương, điểm thiết yếu là chu toàn vạn sự. Không gắng công một chút thì không thể có nhàn hạ lâu dài, không chịu cực nhọc tạm thời thì không có an ninh vĩnh cửu. Thần kính dâng kế hoạch, huy động dân hai trấn, kiến trúc lũy Trường Dục, trên từ núi Thần Đinh, dưới đến nước bàn Hoặc Hải, là nơi điền địa hiểm yếu, lấy đó mà biên phòng, nếu địch xuất hiện thì chẳng làm gì được.
Sãi Vương tán thưởng và cho đó là quốc sách. Sau lũy Trường Dục dài 9km, lần lượt đến lũy Đầu Mâu – còn gọi là lũy Nhật Lệ – lũy Trấn Ninh và lũy Trường Sa, tất cả tạo thành hệ thống đồn lũy mà người đời gọi là Lũy Thầy hay lũy Đào Duy Từ. Sau này đến đời Thiệu Trị, nhà vua đặt tên cho lũy là Định Bắc Trường Thành.
Gần 4 thế kỷ trôi qua. Lũy Thầy bị thời gian bào mòn, bị thiên tai và chiến tranh tàn phá, thời kỳ nay hay thời kỳ khác bị con người lãng quên. Dấu nối giữa quá khứ và hiện tại mờ dần. Nhưng với dấu tích hiếm hoi còn lại cũng giúp chúng ta lật qua lớp thời gian tìm về những di sản lịch sử vô giá mà ông cha để lại.
Tô Đức Chiêu – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Tự vay, tự trả

Xung quanh phương án điều chỉnh giá điện, giá cước điện thoại nội hạt và cước bưu chính – Vì sao phải điều chỉnh và vì sao chưa điều chỉnh ?
Từ ngày 1/7/1999 chưa thực hiện việc tăng giá điện, tăng giá cước bưu chính và thay đổi phương thức tính giá thuê bao điện thoại nội hạt.
Việc thực hiện tăng giá sẽ được lui vào một thời điểm thích hợp.
LTS: Thời gian vừa qua trên một số báo đã đưa các thông tin và bình luận xung quanh việc Chính phủ sẽ điều chỉnh giá bán điện, giá cước điện thoại nội hạt và cước bưu chính. Theo đó, thời điểm điều chỉnh giá được dự báo là từ ngày 1/7/1999. Nhiều cán bộ, nhân dân cũng có thư gửi đến các cơ quan có trách nhiệm bày tỏ ý kiến của mình trước những dự kiến này. Tại cuộc họp báo chiều 8/7/1999 tại Hà Nội, thừa lệnh Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng – Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ đã chính thức thông báo ý kiến của Chính phủ về những vấn đề này như sau:
Về vấn đề giá điện:
Từ năm 1994 Nhà nước không sử dụng vốn Ngân sách để đầu tư cho ngành Điện nữa. Thay vào đó, ngành Điện phải “tự vay, tự trả” để đầu tư cho các công trình điện của mình. Trong khi đó yêu cầu về vốn đầu tư của ngành Điện lại rất lớn vì có nhiều công trình cần đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng điện đang tăng rất nhanh. Năm 1998 sản lượng của ngành điện đạt 20,8 tỷ KWh. Dự báo đến năm 2001 phải đạt tới 30,9 tỷ KWh.
Để đạt mức công suất này, ngành Điện cần có số vốn đầu tư rất lớn: năm 1999 cần 14.370 tỷ đồng (trong đó vay nước ngoài gần 9000 tỷ đồng); năm 2000 cần 19.070 tỷ đồng (vay nước ngoài 11.414 tỷ). Nguồn vốn vay nước ngoài trong tổng vốn đầu tư kể trên, ngành điện phải vay từ Chính phủ Nhật Bản, Ngân hàng châu Á (ADB), Ngân hàng thế giới (WB).
Một trong các điều kiện để các đối tác kể trên đồng ý cho vay vốn là yêu cầu mức giá bán điện phải đảm bảo ở mức đủ để cho ngành điện tử đầu tư, tái đầu tư và trả được nợ. Chính phủ Việt Nam đã thảo luận về điều kiện này với các nhà cho vay và đã cam kết là sẽ nâng dần giá điện theo hướng để ngành Điện có thể tự tái đầu tư. Mức điều chỉnh giá điện cũng đã được cam kết: năm 1999 nâng lên 5,2 cent (USD)/1KWh, năm 2000 lên 6,2 cent (USD)/1KWh và năm 2001 lên 7,2 cent (USD)/1KWh.
Sau khi xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và của ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã giao cho các ngành liên quan xây dựng đề án điều chỉnh giá điện. Có 2 phương án được đưa ra song đều đảm bảo các nguyên tắc:
-Không tăng giá đối với 100KWh đầu tiên cho điện tiêu dùng.
-Giữ nguyên giá điện cho nông thôn.
-Tăng nhẹ giá điện đối với một số ngành sản xuất và hành chính sự nghiệp.
Trước khi trình chính thức lên Thủ tướng Chính phủ đề án này đã được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân….tham gia góp ý.
Tuy nhiên như nhiều báo đã phân tích, do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng khu vực, tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm của nước ta còn diễn ra nhiều thử thách, khó khăn khiến nhiều ngành sản xuất bị đình trệ. Một nguyên nhân khác là do các cơ quan của Chính phủ chuẩn bị đề án chưa thật kỹ. Bởi vậy Thủ tướng Chính phủ đã quyết định chưa phê duyệt phương án tăng giá điện. Thời điểm tăng giá sẽ được lui vào một thời điểm thích hợp trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng không để ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh và đời sống nhân dân.
II-Về điều chỉnh giá cước bưu chính viễn thông:
Vừa qua, Tổng cục Bưu điện có đề án trình Chính phủ hai nội dung:
-Xin tăng giá cước tem thư dưới 20g từ 400 đồng lên 1000 đồng
-Điều chỉnh phương án tính cước điện thoại nội hạt.
Các cơ quan chức năng của Chính phủ đã thẩm định và đồng ý trình lên Thủ tướng đề nghị này của Tổng cục Bưu điện.
Về nguyên tắc, việc quy định giá cước chuẩn của tem thư dưới 20g là thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Tổng cục Bưu điện căn cứ vào cước chuẩn này quy định cước cho các loại thư khác, cũng như cước bưu phẩm hàng hóa. Năm 1993 thủ tướng Chính phủ đã quyết định cước tem thư dưới 20g là 400 đồng. Từ đó đến này, Tổng cục Bưu điện đã nhiều lần xin phép Chính phủ cho tăng cước tem thư và gần đây nhất là đề án xin được cho tăng từ 1/7/1999.
Tuy nhiên qua phản ánh trên báo chí, dư luận xã hội trong đó đặc biệt là các cán bộ về hưu, sinh viên, người dân nông thôn….đều cho rằng việc tăng giá là bất hợp lý. Vì vậy Thủ tướng đã quyết định chưa cho tăng giá cước tem thư.
Đối với cước thuê bao điện thoại nội hạt, theo phân cấp hiện hành, việc quyết định mức giá là thuộc thẩm quyền của Tổng cục Bưu điện. Đề án của Tổng cục Bưu điện xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc thay cách tính cước thuê bao từ hình thức khoán 68.000 đ/tháng cả thuê bao và cước 450 phút đầu sang hình thức tách cước thuê bao là 27.000đ/tháng (chưa có thuế Giá trị gia tăng) và gọi phút nào trả tiền phút ấy. Theo tính toán của một số chuyên gia, trên thực tế cách thay đổi này không làm giảm mà lại làm tăng cước thuê bao điện thoại. Vì vậy Thủ tướng cũng quyết định chưa cho phép thực hiện đề án này.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 29(81)1999

Thực hiện chương trình hành động quốc gia CT6 “Cần hình thành những doanh nghiệp du lịch mạnh” – Phần 2

Nhận thức được tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn, những năm gần đây, Chính phủ đã cho thành lập một số doanh nghiệp theo mô hình Tổng công ty 91; đồng thời ủy quyền cho các bộ, ngành, địa phương quyết định thành lập các Tổng công ty 90. Đến nay, cả nước đã có 17 Tổng công ty 91 và 75 Tổng công ty 90, trong đó có Tổng công ty Du lịch Sài Gòn. Đây là những doanh nghiệp lớn và vừa, bao gồm khoảng trên 2000 các doanh nghiệp thành viên, chiếm trên 1/3 tổng số doanh nghiệp nhà nước hiện có và chiếm khoảng 72% tổng số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước. Sự có mặt của Tổng công ty Du lịch Sài Gòn (Saigontourist) nói riêng và các Tổng công ty nói chung biểu hiện sự quyết tâm sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Nhà nước trong tình hình mới, đồng thời cũng là một minh chứng cho tính cần thiết khách quan phải hình thành một số hoặc một Tổng công ty Du lịch của Việt Nam, tùy theo yêu cầu của việc tích tụ và tập trung vốn để đảm bảo nhu cầu thị trường trong thành phố lớn, vùng, khu vực, toàn quốc hoặc mở rộng ra thị trường quốc tế. Theo đó, mô hình tổ chức của Tổng công ty Du lịch có thể là: Tổng công ty quốc gia (Du lịch Việt Nam), gồm các đơn vị thành viên hoạt động trên phạm vi toàn quốc; Tổng công ty khu vực, gồm các đơn vị thành viên hoạt động trên địa bàn một số tỉnh, thành hoặc ở một thành phố lớn.
Việc thành lập các Tổng công ty Du lịch sẽ xóa bỏ tình trạng cùng tồn tại nhiều doanh nghiệp của một ngành trên cùng một địa bàn lãnh thổ, nhưng lại do nhiều cấp, nhiều bộ, ngành quản lý; đồng thời tạo điều kiện để đầu tư đổi mới công nghệ và có thể hội nhập với thị trường khu vực và thế giới. Tuy nhiên, phải nghiên cứu, lựa chọn mô hình thích hợp để hoạt động để Tổng công ty đạt hiệu quả kinh tế cao; mô hình được lựa chọn và nguyên tắc hoạt động của nó phải thực sự khác so với nguyên tắc hoạt động động của các Tổng công ty và Liên hiệp xí nghiệp thời kỳ trước đây. Do đặc thù của Ngành, vốn của Tổng công ty Du lịch không nhất thiết phải là 1000 tỷ đồng như quy định đối với Tổng công ty 91 hoặc 500 tỷ đồng đối với Tổng công ty 90; phải chuẩn bị lựa chọn những nhà quản trị có năng lực thực sự, có trách nhiệm để quản lý điều hành doanh nghiệp. Chúng ta cũng đã có khá nhiều bài học về sự hoạt động không hiệu quả của các Liên hiệp xí nghiệp, Tổng công ty đó. Nhưng, điều này nhiều khi cũng được coi như là “cái cớ” để một số người chưa thích ứng với xu thế hình thành các tập đoàn kinh doanh xuyên quốc gia ở những nước phát triển trên thế giới, đã tìm cách cản trở hoặc kìm hãm những ý tưởng mới về nghiên cứu hình thành Tổng công ty mạnh trong ngành Du lịch.
Hình thành Tổng công ty Du lịch mạnh là việc làm cần thiết, đòi hỏi phải được thực hiện trong một chương trình tổng thể với những bước đi hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam nói chung và của ngành Du lịch nói riêng; phải tổng hợp được trí tuệ của các nhà quản lý, nghiên cứu và những người có kinh nghiệm thực tế trong hoạt động kinh doanh du lịch…Trước mắt, để thực hiện ngay Chương trình Hành động quốc gia về Du lịch và những sự kiện Du lịch năm 2000, các nghiên cứu xây dựng đề án thành lập Tổng công ty mạnh đối với các doanh nghiệp Du lịch hiện đang thuộc Tổng cục Du lịch Quản lý; phối kết hợp với các Bộ, ngành, địa phương đẩy mạnh quá trình sắp xếp doanh nghiệp Du lịch nhà nước trên địa bàn cả nước. Trên cơ sở đó, tiến tới hình thành mô hình hợp lí của Tổng công ty du lịch Việt Nam (Hãng du lịch quốc gia Việt Nam) gồm các doanh nghiệp thành viên hoạt động trên địa bàn là những Trung tâm Du lịch trọng điểm của nước ta, góp phần làm cho các doanh nghiệp Du lịch nhà nước thực sự vững mạnh, kinh doanh đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững trong thiên niên kỷ mới.
Phạm Hà Trang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Thực hiện chương trình hành động quốc gia CT6 “Cần hình thành những doanh nghiệp du lịch mạnh” – Phần 1

Ngành du lịch Việt Nam đang triển khai chương trình hành động quốc gia về Du lịch và những sự kiện du lịch năm 2000 mang tên: “Việt Nam – Điểm đến của thiên niên kỷ mới”. Là những người đang trực tiếp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, chúng tôi đặc biệt quan tâm chú ý và hoàn toàn tâm đắc với Chương trình hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch (CT6) trong đó có một nội dung nêu rất cụ thể: “Kiện toàn sắp xếp lại các doanh nghiệp trực thuộc Tổng cục, hình thành những doanh nghiệp du lịch nhà nước mạnh, hoạt động có hiệu quả cao ở những địa bàn trọng điểm…”.
Chúng tôi cho rằng: Cách đặt vấn đề như vậy là hoàn toàn đúng đắn, nếu triển khai thực hiện đúng, có kết quả chương trình này sẽ góp phần quan trọng tạo thế và lực cho Du lịch Việt Nam tiến vào thế kỷ 21, bởi vì: Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, doanh nghiệp nhà nước phải có quy mô lớn và vừa, có trình độ công nghệ tiên tiến, đồng bộ bảo đảm phát huy tối đa năng lực kinh doanh, quản lý giỏi và đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Các doanh nghiệp nhà nước loại này sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung phù hợp với yêu cầu của quá trình phát triển lực lượng sản xuất xã hội….Sau nhiều lần sắp xếp, tổ chức lại, một số doanh nghiệp Du lịch nhà nước hoạt động quá yếu kém đang bị loại trừ dần trong những năm gần đây, đặc biệt là các doanh nghiệp ở cấp quận, huyện quản lý. Tuy nhiên, những doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả còn quá ít ỏi và quy mô doanh nghiệp vẫn còn nhỏ bé, vừa không đủ khả năng thể hiện vai trò chủ đạo định hướng của kinh tế quốc doanh, vừa thiếu lực lượng để làm đối tác, cạnh tranh với nước ngoài. Trong điều kiện đó, việc xây dựng các doanh nghiệp Du lịch nhà nước có quy mô lớn làm nòng cốt và tăng khả năng cạnh tranh là yêu cầu cần thiết khách quan. Mặt khác, chúng ta thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần cùng tham gia kinh doanh du lịch, nhưng trong khi chưa quản lý nhà nước bằng pháp luật chưa đi vào nền nếp, để đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp Du lịch nhà nước còn phải giữ vai trò độc quyền hoặc chủ đạo tròn lĩnh vực có nguồn thu lớn như kinh doanh lữ hành quốc tế…, một số lĩnh vực cần thiết khác đối với hoạt động kinh doanh du lịch như: Quản lý kinh doanh ở các khu du lịch lớn, các khu vui chơi giải trí, tôn tạo danh thắng, di tích lịch sử, văn hóa…, mà các thành phần kinh tế khác không muốn tham gia do không có lợi, thu lợi nhuận ít hoặc không đủ điều kiện về vốn để kinh doanh.
Việc xây dựng các doanh nghiệp Du lịch nhà nước mạnh mẽ hướng tới mục tiêu: Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Du lịch nhà nước trên thị trường; xóa bỏ dần chế độ chủ quản; xóa bỏ sự chia cắt cát cứ ngành theo ranh giới hành chính và sự phân biệt giữa kinh tế trung ương và kinh tế địa phương. Tăng cường khả năng huy động điều hòa vốn theo yêu cầu khách quan của quy luật kinh tế thị trường; tăng cường vai trò quản lý định hướng của nhà nước đối với các thành phần kinh tế trong hoạt động kinh doanh du lịch.
Như vậy, các doanh nghiệp Du lịch nhà nước mạnh vừa hoạt động ở tầm vi mô, vừa là công cụ để Nhà nước định hướng điều tiết vĩ mô. Sự hình thành các doanh nghiệp Du lịch nhà nước mạnh không chỉ thuần túy chịu sự tác động của các quy luật thị trường mà còn là công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng chiến lược phát triển Ngành bền vững. Nếu các doanh nghiệp Du lịch nhà nước mạnh được thành lập và hoạt động có hiệu quả cao thì trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh du lịch sẽ hình thành hai tầng: Tầng trên là những doanh nghiệp lớn, hoạt động trên phạm vi rộng; tầng dưới là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tập hợp thành khu đệm làm vệ tinh cho các doanh nghiệp lớn.
Phạm Hà Trang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Ban chỉ đạo rất cần, kế hoạch lại cần hơn

Chương trình hành động quốc gia về du lịch và các sự kiện Du lịch Việt Nam năm 2000 được Chính phủ chính thức phê duyệt đến nay đã tròn 4 tháng. Hiện đã có 16 tỉnh, thành phố thành lập Ban chỉ đạo về Du lịch tại địa phương và có các chương trình, kế hoạch cụ thể hưởng ứng Chương trình quốc gia. Các địa phương còn lại đang tiếp tục xây dựng chương trình hành động của mình.
Trong điều kiện kinh tế – xã hội chung còn nhiều khó khăn cấp bách, kết quả trên là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên so với tiến độ quy định vẫn có chậm trễ. Sự lúng túng của một số địa phương trong triển khai các Chương trình quốc gia bắt đầu từ việc cụ thể hóa các chương trình này vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình. Nên triển khai cả 6 chương trình hay chỉ chọn những chương trình thiết yếu nhất trong điều kiện có thể của địa phương ? Có nên thành lập Ban chỉ đạo về Du lịch hay chỉ cần xây dựng kế hoạch hành động cụ thể ? Nếu không thành lập Ban chỉ đạo liệu các kế hoạch hành động có nhận được sự hỗ trợ vật chất và hợp tác cần thiết để biến thành hiện thực ? Đó là những câu hỏi đang được nhiều địa phương quan tâm tìm lời giải.
Theo tinh thần chỉ đạo chung: Việc thành lập Ban chỉ đạo về Du lịch tỉnh, thành phố là tùy theo yêu cầu và điều kiện cụ thể từng nơi. Ban chỉ đạo có phương án, kế hoạch trình UBND tỉnh, báo cáo Tổng cục Du lịch để triển khai chương trình hành động tại địa phương.
Từ định hướng trên, rõ ràng điểm mấu chốt nhất khi triển khai Chương trình quốc gia tại các địa phương vẫn là khâu xây dựng kế hoạch hành động cụ thể. Một chương trình hành động về Du lịch hòa quyện trong Quy hoạch kinh tế – xã hội, Quy hoạch Du lịch của tỉnh, của vùng với từng kế hoạch riêng, chi tiết theo điều kiện có thể của địa phương – là điều kiện tiên quyết giúp Ban chỉ đạo địa phương hoạt động hiệu quả. Thậm chí ngay cả trong trường hợp không có Ban chỉ đạo, chính sức thuyết phục của kế hoạch hành động sẽ là cơ sở để hình thành nên các dự án đầu tư, thu hút các nguồn lực ở địa phương và khu vực tạo nên những “cú huých” thúc đẩy Du lịch tại mỗi địa phương phát triển. Ngược lại, nếu chỉ trọng tính hình thức của Ban chỉ đạo mà ít lưu ý tới tính thực tiễn và khả thi của các chương trình hành động thì cũng khó đem lại hiệu quả mong muốn.
Vậy nên, việc cần làm ngay lúc này ở nhiều địa phương vẫn là chuẩn bị thật tốt, thật chi tiết các chương trình hành động của mình. Đó là mũi tên trúng nhiều đích khi chuyển sang bước thực hiện.
Hoàng Long-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Phục vụ ăn Âu phải chăng đang bị lãng quên

Ăn u là quy trình phục vụ cho khách nước ngoài, chủ yếu là khách châu u ăn uống trong các nhà hàng khách sạn. Từ trước đến nay trong chương trình đào tạo của các trường nghiệp vụ du lịch, một nữa thời gian dạy nghề phục vụ bàn dành cho qui trình phục vụ ăn u. Đã là nhà hàng khách sạn, đầu bếp phải biết nấu ăn Âu. Nhân viên nhà hàng phải biết qui trình phục vụ ăn Âu và nhà hàng đương nhiên phải mua sắm dụng cụ phục vụ ăn Âu bao gồm: dĩa có kích thước, độ nông sâu khác nhau, thìa, dao, nĩa, lặp là, tách trà và các loại ly sử dụng cho các loại rượu khác nhau bởi mỗi món ăn u tuỳ theo tính chất thực phẩm, hải sản hay thịt gia súc, gia cầm, rán hay luộc để chọn một loại rượu thích hợp.
Những khách sạn xây dựng từ trước năm 1994 dù lớn hay nhỏ đều có nhà hàng và được trang bị dụng cụ ăn Âu đồng bộ. Nhân viên nhà hàng trong những năm đó ít nhiều đã thuần phục qui trình phục vụ ăn Âu, cách bày bàn, cách rót rượu và thu dọn dụng cụ từ ăn điểm tâm đến ăn bữa và các loại tiệc khác nhau. Còn nay thì sao? Các khách sạn càng xây về sau này càng hiện đại về trang thiết bị, nhiều nhà hàng có thể phục vụ các bữa tiệc lớn với 300 – 500 chỗ ngồi, chiếm vị trí sang trọng trong một tổng thể kiến trúc của khách sạn tầm cỡ 3 sao, bàn ghế cũng được sắm bằng vật liệu cao cấp hơn, song đáng tiếc các nhà đầu tư, quản lý khách sạn hầu như không chú ý đến dụng cụ phục vụ ăn uống trong nhà hàng đó là chưa kể xây dựng không phù hợp với dây chuyền công nghệ phục vụ ăn uống. Họ đã bỏ ra nhiều tỷ đồng để đầu tư xây dựng khách sạn, nhiều trăm triệu cho biết bị nhà hàng song khi cần mấy chục triệu để mua sắm dụng cụ ăn uống đồng bộ họ lại đắn đo. Thế là dụng cụ bày trên những chiếc bàn sang trọng kia không tương xứng bởi dụng cụ không cùng kiểu dáng, màu sắc, không đủ chủng loại, chúng tôi thường ví như một người đàn ông mặc com-lê đeo cà vạt nhưng chân lại đi dép nhựa. Điều đáng buồn hơn là nhân viên phục vụ hầu như quên hết mqui trình phục vụ ăn Âu, các động tác bưng, đưa, gắp, rót vụng về và thậm chí những nhân viên mới tuyển dụng chưa bao giờ nhìn thấy hết các loại ly rượu và rượu nào dùng khai vị, rượu nào uống trong bữa.
Chúng tôi cho rằng để tạo sự sang trọng cho một nhà hàng ngoài những trang thiết bị hiện đại các dụng cụ ăn uống không nhất thiết phải là những dụng cụ đắt tiền nhưng cần phải đồng bộ về kiểu dáng, màu sắc. Một bộ courve ăn uống đồng màu, đồng chất liệu được in tên đơn vị (nhà hàng), tạo sự sang trọng cho nhà hàng và đó cũng là cách tiếp thị tốt nhất. Vài năm gần đây do lượng khách nước ngoài ít, thời gian lưu trú ngắn, các nhà hàng khách sạn của chúng ta chưa thoát khỏi những bế tắc trong kinh doanh, song không vì thế mà chúng ta lãng quên những gì phải làm, những yêu cầu tối thiểu cho một nhà hàng khách sạn, đặc biệt là đội ngũ nhân viên phục vụ bàn có tay nghề bởi không riêng gì khách ăn u, khách trong nước cũng yêu cầu chất lượng phục vụ cao. Khó khăn của chúng ta là tạm thời, năm du lịch 2000 đang gần kề, những nhà hàng khách sạn quốc doanh hơn hẳn lực lượng tư nhân bên ngoài về không gian, cảnh quan, kiến trúc tại sao chúng ta không lợi dụng ưu thế đó để thu hút khách.
Thiết nghĩ, trong tiêu chuẩn xếp hạng sao của tổng cục du lịch yếu tố sang trọng của một nhà hàng khách sạn là một chỉ tiêu để cho điểm đánh giá và xếp sao. Sẽ là không đồng bộ nếu một nhà hàng sang trọng không thể và không có khả năng phục vụ một tiệc u theo đúng nghi lễ ngoại giao.
Dương Thị Thơ – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Nhân tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm – cần sớm có chương trình quốc gia về vệ sinh an toàn thực phẩm

Với việc thành lập Cục Quản lý Chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và tổ chức lễ phát động “Tháng hành động vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm:, Bộ Y tế đã sớm triển khai thực hiện Quyết định số 14/1999/QĐ-TTg và Chỉ thị số 08/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Dư luận hết sức phấn khởi trước sự quan tâm tới sức khỏe mọi người dân của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Y tế, và hy vọng từ nay, nói như Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm là “sức khỏe của mỗi người dân, của cả dân tộc là vốn quý của quốc gia” sẽ được Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương chăm lo bảo vệ với một thái độ rõ ràng, kiên quyết nhất.
Từ thực tế và những cuộc gặp gỡ do Bộ Y tế tổ chức, thiết nghĩ, để đảm bảo về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, Nhà nước cần sớm có Chương trình quốc gia về vấn đề này. Chỉ có Chương trình quốc gia mới huy động được sức mạnh tổng hợp của các Bộ, ngành, địa phương và mọi công dân. Dĩ nhiên, đã là Chương trình quốc gia thì phải có đề tài nghiên cứu khoa học, có các dự án, công tác đào tạo, kinh phí thực hiện, hợp tác quốc tế….Trên cơ sở đó, vấn đề đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm mới được định hướng và được thực hiện thường xuyên, liên tục ở mọi nơi mọi lúc. Trên thực tế, trước đây, khi phát động một phong trào hoặc một vấn đề gì đó thì có nơi có lúc đã “đánh trống bỏ dùi”, ban đầu thì trống giông cờ mở, hô hào nhưng càng về sau càng lặng dần và rốt cuộc là tốn công, tốn tiền mà không hiệu quả. Kiểu cách đó được gọi là “đầu voi đuôi chuột”. Cần phải tránh kiểu cách đó, nhất là về vấn đề đảm bảo chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm – vấn đề liên quan đến sức khỏe, tính mạng mỗi người và nòi giống. Trước thực trạng môi trường sống bị ô nhiễm, mất vệ sinh, nạn làm hàng giả và ngộ độc thực phẩm gia tăng một cách đáng báo động, việc nước ta có chương trình quốc gia về vấn đề chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề bức xúc được dư luận quan tâm, đòi hỏi. Phải nói rằng, trước đây, khi chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề chưa thực sự được quan tâm đúng mức, nó thuộc “năm cha, bảy mẹ” để rồi không ngành nào, cơ quan nào chịu trách nhiệm thì nay chúng ta đã có Cục Quản lý chất lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế. Chính phủ nên giao cho Bộ Y tế (mà nhân vật chính là Cục Quản lý Chất lượng Vệ sinh an toàn thực phẩm) đứng ra xây dựng Chương trình quốc gia về vấn đề này, vì đây là lĩnh vực chuyên môn của Cục. Tất nhiên, xây dựng chương trình quốc gia không phải là vấn đề đơn giản. Nó đòi hỏi sự tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, các nhà khoa học học và được sự quan tâm của đạo của Chính phủ.
Chương trình quốc gia về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm sẽ giúp cho việc bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm được diễn ra một cách bài bản, thường xuyên liên tục, sâu rộng và có hiệu quả. Đã đến lúc Việt Nam cần xây dựng Chương trình quốc gia về vấn đề này.
Đinh Trường – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Phần mềm mới cho quản lý khách sạn

Một hệ thống phần mềm mới được dùng trong công tác điều hành, quản lý khách sạn vừa được công ty trách nhiệm hữu hạn Siêu Tính giới thiệu. Loạt phần mềm trên bao gồm:
Phần mềm quản lý khách sạn Micros 3500 có ưu điểm là dễ cài đặt, dễ sử dụng, an toàn bảo mật, khả năng uyển chuyển linh hoạt.
Hệ thống quản lý bán hàng Micro 3700 thích hợp với các nhà hàng, khách sạn, câu lạc bộ gôn, hồ bơi… Micro 3700 gồm phần mềm quản lý khác như PMS, PM, kế toán, quản trị hội viên…
Hệ thống quản lý nguồn nhân lực gồm các phần: quản lý nhân sự, tuyển dụng, hồ sơ, kế hoạch phát triển nhân viên, hệ thông tiền lương, chấm công, bảo hiểm…
Hệ thống tính cước điện thoại cho khách sạn và văn phòng bao gồm các phần: công nghiệp khách sạn, thông tin khách sạn, giới thiệu hệ thống và dịch vụ WinTap… Hệ thống này sẽ giúp kiểm soát được các cuộc điện thoại, Fax trong nhà hàng, khách sạn, tránh lãng phí.
Nhóm phần mềm nói trên chủ yếu dành cho những khách sạn vừa và nhỏ. Nó có thể thay thế những phần mềm đắt tiền mà các khách sạn vừa và nhỏ không có đủ kinh phí để cài đặt. Với phần mềm này người sử dụng chỉ dùng bàn phím nên thao tác rất nhanh, tiết kiệm được thời gian.
Hệ thống phần mềm trên hiện có bán tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Siêu Tính:
Tại Hà Nội: 25K/5 Phan Đình Phùng, quận Ba Đình.
Tại Thành phố Hồ Chí Minh: 46 Nguyễn Thông, quận 3.
Nhầm
Vợ chồng nhà kia đến Hạ Long nghỉ mát. Người vợ không yên tâm về 2 đứa con ở nhà, lúc lên giường ngủ bèn gọi điện thoại về nhà. Ông chồng đang ngủ mơ mơ màng màng bỗng nói: “Đừng gọi số điện thoại đó em ơi, như thế vợ anh biết đấy!”.
Vợ: Trời!!
Quà tặng chồng
Nữ A: Chị mua quà gì tặng sinh nhật chồng?
Nữ B: Tôi biết anh ấy thích viết nhật ký mà lại viết rất tỉ mỉ và không muốn cho người khác xem. Cho nên tôi đã mua tặng anh ấy 1 quyển sổ nhật ký có cá khoả hẳn hoi.
A: Chắc anh ấy thích lắm nhỉ. Thế chị không có thứ gì cho riêng mình à?
B: Có chứ, tôi đã đánh thêm một chiếc chìa hkoá của cuốn nhật ký kia rồi!
Bức ảnh thực
Một đôi vợ chồng đến hiệu chụp ảnh kỷ niệm đám cưới bạc. Người thợ ảnh nói với bà vợ: “Bác ngồi gần bác trai một chút, tay quàng lên vai bác trai như vậy ảnh chụp tự nhiên hơn”. Ông chồng cười nói: Nếu muốn chụp bức ảnh thực tự nhiên thì tay của bà ấy phải thò vào lục túi quần áo của tôi cơ!
Thanh Hương – Tuần Du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Đường Lam Sơn Chất lượng Vàng Quốc gia

Địa chỉ giao dịch: Thị trấn Lam Sơn, Thọ Xuân, Thanh Hóa; TEL: 037.834091; FAX: 037.834092
Chi nhánh tại Hà Nội: 44 Đường Giải Phóng – Quận Đống Đa – Hà Nội; TEL + FAX: 04.8693748
II – Vùng đất cất lên tiếng hát
Nhà máy quyết định thay đổi phương thức đầu tư cho nông dân trên nguyên tắc giảm thiểu số tối đạ thủ tục hành chính, giấy tờ. “Cầu” trung gian HTX bị “dỡ” bỏ. Thực hiện mọi khâu, mọi việc trực tiếp với nông dân. Nhà máy cử cán bộ xuống từng bản, từng nhà. Mọi thỏa thuận trồng mía với nông dân được bàn bạc, ký kết ở tại đồi, tại nhà của họ. Ấy thế mà, như con chim sợ cành cong, nhiều gia đình chối đây đẩy. Thậm chí có người còn lý sự lại:
Cây mía là cây công nghiệp sa sỉ phẩm. Trồng mía vất vả mà thu lợi chẳng bằng cây lúa. Theo Nhà máy trồng mía, tháng Ba, ngày Tám hết thóc gạo, biết lấy gì để ăn. Cán bộ xem, nhà em đây, đất trồng lúa chỉ có mấy sào, nhờ trời được mùa gạo còn chưa đủ ăn, sao dám phiêu lưu bỏ lúa để trồng mía?
Cán bộ nhà máy giải thích:
Nhà máy không yêu cầu bà con trồng mía trên đất trồng lúa mà là trồng trên đồi.
Trồng mía trên đồi ưu? Đồi nào?
Đồi ở quanh làng ta, nhà ta, ruộng nhà ta. Kia kìa ! – Cán bộ chỉ tay lên đồi.
Các ông có biết trước đây Nhà nước cũng đã đem cây đay lên đồi này để trồng rồi chứ ?
Biết !
Biết, tức là biết thất bại. Sao còn xui dại chúng tôi. Cây đay chỉ lấy vỏ mà còn chẳng trồng được huống chi cây mía trồng lấy mật, lấy đường.
Bi quan, cán bộ phải năn nỉ:
Trời đất ơi, bác có tin tôi không ?
Tin, nhưng tôi không dám.
Cán bộ Nhà máy có người phát khùng lên:
Bây giờ thế này nhá: Nhà máy đem giống, phân bón, thuốc trừ sâu đến cho bác; đem máy cày đến cày đồi cho bác; Lại cử cán bộ như tôi đây hướng dẫn trồng mía cho bác. Việt của bác; của gia đình bác chỉ là chăm sóc, bảo vệ, thu hoạch. Bác thu hoạch chỉ việc dồn đống lại đó, ô tô sẽ đến chuyển về Nhà máy. Tóm lại là việc của bác chỉ là bảo vệ, chăm sóc cho mía thật to, thật ca, thật ngọt. Càng nhiều tấn tạ, bác càng có nhiều tiền. Đấy, như thế gia đình bác có làm được không?
Nhiều người nông dân ngỡ ngàng với phương thức đầu tư này, còn bán tín bán nghi.
Nhà máy dám làm như thế thật ư ?
Sao không thật, có hợp đồng kinh tế giữa Nhà máy với bác hẳn hỏi đây.
Xem hợp đồng thật kỹ, nông dân mỉm cười. Ấy thế mà họ vẫn còn ngại:
Nhỡ đất đồi sỏi đá, chúng tôi chăm sóc mà cây không lớn được thì sao
Bác cứ làm đúng như hướng dẫn, cây không lớn được Nhà máy không bắt đền bác đâu.
Với phương cách đầu tư như vậy, người nông dân dần dần tin tưởng. Một nhà ký hợp đồng, hai nhà ký hợp đồng, qua năm tháng, đã có hàng vạn hộ gia đình ký hợp đồng trồng mía bán cho Nhà máy. Và rồi không phải chỉ có các hộ nông dân ở 34 xã thuộc 4 huyện Thọ Xuân, Triệu Sơn, Ngọc Lạc, Thường Xuân mà các hộ xung quanh vùng đồi Làm Sơn cũng hưởng ứng, lên tới 53 xã, thậm chí ngay các hộ ở ba nông trường Lam Sơn, Sao Vàng, Thống Nhất cũng ào ào làm theo. Vùng đồi sỏi đá, gia góc, rộn rã suốt ngày đêm. Kết quả thật khác xưa. Xin được nêu những con số khái quát:
Năm 1990, diện tích đạt: 1.369 ha
Năm 1991 tăng lên: 2.569 ha
Năm 1993 tăng lên: 3.116 ha
Năm 1996 tăng lên: 5.600 ha
Năm 1998 tăng lên: 8.640 ha
Trong đó, diện tích Nhà máy đầu tư khai hoang phục hóa và cải tạo đất, xây dựng đồng ruộng lên tới 7.800 ha, với tổng số vốn đầu tư cho nông dân gần 10 tỷ đồng. Cùng với diện tích vùng nguyên liệu không ngừng tăng lên, năng suất cũng tăng lên thật bất ngờ.
Năm 1987, năng suất chỉ đạt 18,8 tấn/ ha.
Năm 1990, tăng lên 37,5 tấn/ ha
Năm 1996 tăng lên 62 tấn/ ha, gấp 3 lần năm 1987.
Sản lượng mía thu hoạch:
Năm 1992 đạt 51.000 tấn
Năm 1995 tăng lên 192.000 tấn
Năm 1996 tăng lên 320.000 tấn
Năm 1998 tăng lên 680.000 tấn
Trữ lượng đường, chất ngọt lịm của mía cũng tăng từ 8 CCS lên 10 CCS
Rõ ràng với cơ chế đúng, phù hợp với cách nghĩ và cách làm của người nông dân, Nhà máy đường Lam Sơn là khởi nguồn làm thay đổi vùng đất đồi sỏi đá, hang sơ từ ngàn vạn năm nay trở mình thành vùng “đất ngọt”. Đến với vùng đồi bây giờ, mùa xuân ta được say sưa ngắm nhìn những chồi non xanh biếc vươn lên; mùa thu được thỏa thích ngắm nhìn đồi núi được phủ một màu xanh ngút ngàn, lúc nào cũng lao xao, xào xạc; chớm đến mùa đông, lá xanh sẫm lại, trong heo ây, ta nghe chất mật ngọt từ lòng đất dâng lên, dồn tụ vào từng thân cây mía. Đồi núi Lam Sơn hoang vu trầm mặc, nay như uy nghi, như được gỡ bỏ tấm áo thâm xì, gai góc để lộ ra nhưng nét thanh xuân tươi trẻ. Cái không khí lo làm lo ăn đã bừng lên trên các sườn đồi. Người nông dân không còn lạ lẫm với cái từ Hợp đồng, ngày ngày vui với câu chuyện làm ăn:
Hợp đồng: Nhà máy
Giống mía: Nhà máy
Vật tư: Nhà máy… (còn nữa)
Phạm Thành – Sỹ Hào-Tuần Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Làng văn hóa đồng xanh – ấn tượng văn hóa Tây Nguyên thu nhỏ

Cách thành phố Pleiku (Gia Lai) 10 km về phía đông, dọc theo quốc lộ 19, khi những dãy phố dài thưa dần, bạn sẽ chứng kiến khung cảnh đồng lúa An Phú bằng phẳng, bao la – điều kỳ lạ có thật trên vùng đất cao nguyên thường chỉ có đồi núi tiếp liền. Chếch về phía bên phải, xa xa trong tầm nhìn, giữa khoảng xanh tươi non của lúa đương thì con gái là những mái nhà rông, nhà dài mang đậm dấu ấn Tây Nguyên và màu xanh của dừa, cau thấp thoáng ẩn hiện. Đó là khu du lịch văn hóa có tên Đồng Xanh vốn được xây dựng từ một vùng ngập trũng, hoang hóa, um tùm cỏ cây.
Có dịp ghé qua nơi này, bạn sẽ từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và khó mà hình dung nguyên trạng vùng đất này vài năm trước đó. Bàn tay, trí tuệ và tình cảm con người đã biến vùng đất hoang hóa, sình lầy thành khu công viên văn hóa xinh đẹp. “Nói thế chứ trên diện tích 3 ha này chúng tôi đã đầu tư vào đó hơn 1 tỷ đồng” – Giám đốc công ty điện ảnh Gia Lai – Đinh Vạn Dũng khi đưa chúng tôi tham quan một lượt công viên đã cho biết thế. Gia Lai là tỉnh Bắc Tây Nguyên nổi tiếng bởi đặc trưng văn hóa đại diện cho cả vùng; xây dựng khu văn hóa thu nhỏ ấy vừa để làm điểm giải trí cho khách tham quan vừa giới thiệu bản sắc văn hóa độc đáo đó. Và thế là Ban Giám đốc công ty đã đề xuất ý kiến và lập đề án xây dựng, đầu tư vào công trình bằng cách tận dụng địa hình lầy thụt, ngập nước quanh năm. Con đường lát đá phẳng phiu đưa chân ta đến với đôi cánh cổng hình đôi ngà voi thanh mảnh vút cao. Qua cánh cổng ấy một đỗi là chiếc cầu tre theo lối chùa cầu Quảng Nam dài gần 20 mét cong cong dẫn ta vào khu chính diện của công viên. Đứng tại đây, ta có thể quan sát toàn bộ khu văn hóa từ nhà lễ tân trung tâm hình chiếc nón úp khổng lồ hoàn toàn bằng nguyên liệu tranh tre nứa lá đến ngôi nhà rông, đàn t’rưng nước, mái nhà dài, chòi giữ lúa, chuồng chim thú bọc lưới đến hồ nước, khu cây cảnh, hoa tươi, nhà thủy tạ, phòng ăn, phòng hát karaoke, sân khấu ngoài trời, những chiếc cầu nho nhỏ xinh xinh ngang, dọc nhiều kiểu dáng nối liền với nhau….Màu xanh của cây, nước, sự tươi thắm, rực rỡ hoa; những lối nhỏ lát đá quanh co; một chiếc ghế đá thân quen bất chợt hiện ra trên lối đi; chiếc nấm e dè nép mình trong bụi cây,….thoạt nhìn cứ như chẳng có gì đáng chú ý nhưng càng nhìn càng thấy dụng ý tinh tế của người kiến trúc, xây dựng – làm sao để du khách thấy nơi đây thật sự là khung cảnh quen thuộc, gần gũi của họ. Thành phố Pleiku không xa – nơi cuộc sống đô thị tấp nập, ồn ào – do vậy, đây là không gian lý tưởng cho những kỳ nghỉ ngơi, thư giãn sau nhiều ngày làm lụng vất vả đối với nhiều người. Dịp xuân Kỹ Mão 99 vừa rồi, khu văn hóa Đồng Xanh đón tiếp đến 4 vạn lượt khách đến thăm, doanh thu trên 200 triệu đồng. Không cứ gì ngày lễ, ngày Tết, ngày thường cũng có rất nhiều người đến tham quan, thư giãn. Đồng Xanh trở thành địa chỉ văn hóa, du lịch, nghỉ ngơi quen thuộc và “uy tín” đến mức hễ có đoàn khách, vị khách nào đến, “chủ nhân Gia Lai” đều đưa đi giới thiệu.
Sắp tới, Đồng Xanh sẽ được mở rộng, bổ sung thêm một số hạng mục như khu công trình văn hóa của đồng bào dân tộc Kinh, cầu treo bằng mấy, các trò chơi dân gian, các lễ hội đồng bào Tây Nguyên, làng nghề thủ công mỹ nghệ, khu vui chơi giải trí thiếu nhi như Water Park, hồ bơi cùng một số động, thực vật Tây nguyên v.v…
Thất Sơn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999