Vĩnh Long xanh mướt miệt vườn

Vĩnh Long là một trong 12 tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Có thể nói hầu hết những nét đặc thù tiêu biểu của vùng du lịch sinh thái đồng bằng châu thổ dường như tạo hóa đã quá hào phóng ban tặng cho vùng đất trẻ này. Vì vậy những năm gần đây ngành Du lịch Vĩnh Long đã chiếm cho mình một vị trí khá vững chắc, bằng thực thế, thời gian qua du lịch Vĩnh Long đã tiếp nhận hàng chục ngàn du khách quốc tế đến tham quan du lịch miệt vườn. Chúng tôi vừa có cuộc gặp gỡ, trao đổi cùng ông Đặng Văn Hoai, Giám đốc Công ty Du lịch Cửu Long về những thành quả trên.
Thưa ông, Vĩnh Long được mệnh danh là vùng “lãnh thổ của những dòng sông” bao năm qua nổi tiếng về DL sinh thái (DL miệt vườn). Đặc biệt với chủ đề “Đi trong màu xanh đồng bằng sông Cửu Long” mà chính ông là tác giả. Nhân tới đây đón chào năm du lịch 2.000, ông có thể giới thiệu những nét đặc trưng độc đáo của DL Vĩnh Long? Và đồng thời cho biết sơ nét về quá trình “vận hành” của ngành DL Vĩnh Long hiện tại cũng như hướng phát triển?
Du lịch ĐBSCL nói chung, Vĩnh Long nói riêng có cùng chung một môi trường qua các tuyến điểm tham quan du lịch, đặc biệt là du lịch miệt vườn (DL xanh). Toàn khu vực 12 tỉnh có những nét hao giống nhau về cái “chất”, riêng về cái “hồn” mỗi nơi có khác… Du lịch Cửu Long lấy mốc thời gian vào năm 1992 sau khi chia tỉnh (Vĩnh Long – Trà Vinh) ngành Du lịch Vĩnh Long từ đó đã có một cuộc thay đổi…
Nhưng tên Công ty chưa thay đổi?
Tên Công ty Du lịch Cửu Long là tên của tỉnh Cửu Long cũ. Sở dĩ không thay đổi tên mới tỉnh Vĩnh Long như hiện nay, bởi lẽ hai chữ Cửu Long, suy ra trong tiềm thức nó ẩn chứa một cái gì đó rất sâu sắc và đầy tính nhân bản, đồng thời thể hiên tính “cội nguồn” được xuất xứ từ chín cửa sông (Cửu Long Giang) đổ ra biển Đông. Chính vì lẽ đó chúng tôi mạnh dạn, đưa ra chủ đề “Đi trong màu xanh ĐBSCL”, mở rộng phát triển tuyến du lịch sinh thái (DL miệt vườn) từ đó bước đầu xây dựng DL bền vững. Thông qua những định hướng của Đảng và chủ trương của Nhà nước về việc phát triển Du lịch. Công ty chúng tôi phối hợp cùng dân địa phương cùng triển khai xây dựng các tuyến du lịch miệt vườn đón khách. Tuy nhiên giai đoạn đầu Công ty quả có gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ sự hỗ trợ của ban ngành lãnh đạo tỉnh, mặt khác sự nhiệt tình công tác của đoàn thể CBCNV đơn vi, cùng nhân dân địa phương du lịch Cửu Long đã xây dựng hơn 10 tuyến điểm tham quan du lịch miệt vườn, phối hợp giữa Công ty và dân như điểm tham quan Nhà ông Sáu Giáo, ông Mười Đầy, ông Tám Hồ, ông Hai Hồng v.v…
Những tuyến điểm kể trên nằm trong địa bàn các xã ven sông và Cù Lao phương tiện giao thông đi lại bằng ghe xuồng. Mỗi tuyến điểm đều có một nét riêng về sản phẩm Du lịch phục vụ khách: Vườn cây ăn trái đủ loại – ẩm thực đặc trưng – Quà lưu niệm – Ca nhạc văn hóa Nam Bộ – Tiểu thủ công nghiệp và tiêu khiển du thuyền trên sông rạch. Điều chúng tôi tự hào hơn hết, đ1o là phong cách phục vụ của người dân địa phương ở đây luôn giữ được bản sắc dân tộc của mình trong giao lưu cũng như phục vụ của người dân địa phương ở đây luôn giữ được bản sắc dân tộc của mình trong giao lưu cũng như phục vụ rất ân cần niềm nở hiếu khách. Chắc có lẽ đây cũng là một trong những thế mạnh của ngành Du lịch Cửu Long, góp phần thu hút du khách. Năm 1992 số lượng khách quốc tế tham quan chỉ có 500 khách năm 1993 – 1995 tăng lên 15.000 người. Năm 1995 – 1998 là 10.500 khách, dự đoán năm 2.000 lượng khách quốc tế sẽ tăng trên 20.000 khách/năm.
Với lượng khách quốc tế đến tham quan các điểm du lịch kể trên, chưa kể khách nội địa chắc chắn doanh thu của du lịch rất khả quan. Nhưng đâu chỉ có vậy?
Tất nhiên để phát triển, du lịch miệt vườn Vĩnh Long đang nỗ lực mở hướng. Thời gian qua đã quy hoạch tổng thể chi tiết về xây dựng phát triển Du lịch địa bàn trong tỉnh. Riêng sản phẩm dịch vụ DL của Công ty hiện nay, có 4 khách sạn trong đó có một khách sạn (3 sao) vừa được nâng cấp xây dựng mới; một nhà hàng nổi và các dịch vụ khác. Hướng tới chúng tôi cho xây dựng mới một khách sạn từ 3 sao đến 4 sao cạnh bờ sông Tiền, ngoài ra Công ty đang phối hợp với du lịch Trường an mở dịch vụ cầu trượt nước và nhiều loại hình giải trí đa dạng với mục đích đón chào năm du lịch 2.000 “Điểm đến thiên niên kỷ mới” đồng thời để góp phần thực hiện chương trình hành động quốc gia và các sự kiện du lịch tới đây.
Liu Sơn -Tuần Du lịch – 1999

Ngành du lịch Cuba đã và sẽ phát triển mạnh

Cuba, nơi đã từng được coi là Thiên đường giữa biển nhiệt đới Caribê với những bãi biển, hàng dừa xanh ngút ngàn quá tầm mắt và chan hòa ánh nắng. Chẳng thế mà Mỹ đã bao năm nuôi dưỡng chế độ độc tài Batista để biến hòn đảo này làm khu du lịch cho riêng những người có thế lực của Mỹ.
Thế nhưng hòn đảo du lịch này đã làm một cuộc cách mạng thay đổi tất cả. Cuba không còn là sân sau của Mỹ. Vậy là Cuba bị bao vây cấm vận. Nhưng Cubu vẫn là hòn đảo của những người dân yêu chuộng hòa bình và ham du lịch. Sau thời kỳ khó khăn do bị cắt nguồn viện trợ bên ngoài, chủ yếu từ Liên Xô, các nước xã hội chủ nghĩa và bị bao vây, phong tỏa, Du lịch hiện là một trong những ngành kinh tế chủ chốt của đất nước, nguồn thu ngoại tệ lớn nhất và đang trên đường phát triển mạnh.
Năm 1998, Cuba thu hút hơn 1,4 triệu du khách nước ngoài, đem lại nguồn thu gần 2 tỷ USD. Năm 1999, Cuba dự định đón 1,7 triệu du khách nước ngoài và đến năm 2000 con số này sẽ là 2 triệu người với nguồn thu dự tính là 2,6 tỷ USD. Đối với các nước có ngành du lịch phát triển thì những con số kể trên không đáng kể bao nhiêu. Nhưng đối với Cuba, một nước vừa ra khỏi cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất từ 1991-1994 và cơn suy thoái 1997/98 do tác động của cuộc rối loạn kinh tế toàn cầu xuất phát từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á, Nga và Brazil, thì nguồn thu đó quả là có một vai trò đáng kể có thể đảm bảo đáp ứng những nhu cầu của nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển.
Phải nói là trong những năm của thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa, ngành du lịch Cuba chưa được chú ý khai thác đúng với tiềm năng của nó. Cho đến năm 1990, khi Cuba xúc tiến chương trình phát triển du lịch, ngành du lịch mới có bước phát triển nhanh và hướng ngoại. Và trên thực tế đã chứng minh hướng đi của Cuba hòa toàn đúng. Số du khách nước ngoài đến thăm Cuba đã tăng lên nhanh chóng, từ 340.000 người năm 1990 tăng lên 741.000 trong năm 1995 và đến năm 1996 lần đầu tiên vượt ngưỡng 1 triệu người.
Chính sách phát triển nông nghiệp đa dạng và hợp thức hóa sử dụng ngoại tệ trên thị trường, khuyến khích kinh tế tư nhân, cả trong kinh doanh du lịch do Đảng và Nhà nước Cuba thực hiện từ năm 1993 đã thực sự làm phong phú thêm các sản phẩm cho ngành du lịch và thu hút ngày càng nhiều du khách bên ngoài muốn đến thăm đất nước tươi đẹp này. Chẳng hạn năm 1998, sản lượng sì gà, một sản phẩm nổi tiếng của Cuba mà người dùng chủ yếu là các ông chủ kinh doanh giàu có của phương Tây, đã tăng 22% so với năm trước và dự kiến đạt 200 triệu điếu vào năm 2000 so với 55,5 triệu điếu năm 1995, 100 triệu điếu năm 1997. Kể từ khi khuyến khích đầu tư nước ngoài, ngành du lịch Cuba đã thu hút hơn 600 triệu USD vốn bên ngoài vào phát triển các cơ sở hạ tầng, tạo ra những điều kiện mới hấp dẫn du khách vào thăm Cuba. Đồng pêsô của Cuba ổn định với tỷ giá 20 pêsô/1USD hiện nay, so với 150 pêsô/1USD trong thời kỳ khó khăn 1991/94 cũng góp phần làm cho thị trường du lịch Cuba hấp dẫn hơn với du khách.
Mới đây, nhằm phát triển du lịch thành ngành kinh tế chủ chốt, Cuba đã đầu tư mạnh phát triển ngành hàng không, mở thêm các chuyến bay trực tiếp từ Cuba tới các thành phố lớn ở châu Mỹ Latinh, châu u, nâng cấp và mở rộng các sân bay ở thủ đô La Habana và Santiago ở miền đông.
Đây là những tiền đồ để du lịch Cuba phát triển trong thế kỷ 21.
Phương Linh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Câu hỏi cuộc thi “Hẹn nhau tại Trung Quốc năm 2000”

Câu 37: Năm 1911 Khởi nghĩa Vũ Xương đã chấm dứt sự thống trị của nhà Thanh. Cuộc khởi nghĩa này được lịch sử gọi là (…)
a/ Chiến tranh giải phóng
b/ Cách mạng Tân Hợi
c/ Chiến tranh thuốc phiện
d/ Thái Bình Thiên Quốc
Câu 38: Con sông đào dài nhất, sớm nhất thế giới là sông (…) của Trung Quốc cổ đại.
a/ Hồng Câu
b/ Thông Tế
c/ Kinh Hàng Đại Vận Hà (Sông đào Bắc Kinh – Hàng Châu)
d/ Hội Thông Hà
Câu 39: Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời ngày (…).
a/ 1/10/1949
b/ 15/8/1945
c/ 8/5/1945
d/ 10/1/1949
Câu 40: Quốc ca của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là bài (…)
a/ Hoàng Hà tụng
b/ Ca xướng Tổ quốc
c/ Đại đao tiến hành khúc
d/ Nghĩa dũng quân tiến hành khúc
Câu 41: Thủ đô nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (…)
a/ Nam Kinh
b/ Bắc Kinh
c/ Tây An
d/ Hàng Châu
Câu 42: Cây cầu cổ nhất hiện nay tồn tại ở Trung Quốc là (…).
a/ Lư Câu
b/ Bảo Đới
c/ Triệu Châu
d/ An Bình
Câu 43: Trong lịch sử Trung Quốc, Tôn Trung Sơn được gọi là (…)
a/ Nhà quân chủ lập hiến
b/ Nhà cách mạng dân chủ
c/ Người cộng sản
d/ Phần tử vô chính phủ
Câu 44: Thời đại có chữ viết sớm nhất ở Trung Quốc là thời (…).
a/ Nhà Hạ
b/ Nhà Thương
c/ Nhà Tây Chu
d/ Nhà Đông Chu
Câu 45: Bốn tác phẩm văn học cổ nổi tiếng của Trung Quốc là (…).
a/ Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Sử Ký, Hồng Lâu mộng.
b/ Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký, Hồng Lâu mộng.
c/ Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du ký, Phong thần diễn nghĩa.
d/ Tam quốc chí, Thủy hử, Tây du ký, Kính hoa duyên.
Câu 46: Bổ tiểu thuyết đầu tiên của văn học Trung Quốc hiện đại là tiểu thuyết (…) của Lỗ Tấn.
a/ Dược (thuốc)
b/ Chúc phúc
c/ Cuồng nhân nhật ký (Nhật ký người điên)
d/ Khổng ất kỷ
Câu 47: Người đầu tiên truyền bá kinh dịch của Trung Quốc ra thế giới là (…).
a/ Trình Trường Canh
b/ Đàm Hâm Bồi
c/ Trương Quân Thu
d/ Mai Lan Phương
Câu 48: Động Đôn Hoàng Mạc của Trung Quốc nằm ở tỉnh (…).
a/ Cam Túc
b/ Thanh Hải
c/ Thiểm Tây
d/ Khu tự trị Tân Cương
Câu 49: Nhà thơ lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc là (…).
a/ Lý Bạch
b/ Khuất Nguyên
c/ Bạc Cư Di
d/ Tô Thức
Câu 50: Tác giả vở Hí kịch “Lôi Vũ” là (…).
a/ Quách Mạt Nhược
b/ Hạ Diễn
c/ Lão Xá
d/ Tào Ngu
Câu 51: Năm 1925, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội và mở các lớp đào tạo cán bộ cho phong trào các mạng Việt Nam. Trụ sở Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đặt tại (…).
a/ Hồng Kông
b/ Quảng Châu (Trung Quốc)
c/ Hà Nội
d/ Pari
Câu 52: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một trong những nước đầu tiên trên thế giới đã công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước là (…).
a/ Ngày 1/6/1954
b/ Ngày 18/1/1950
c/ Ngày 3/9/1945
d/ Ngày 2/10/1949
Câu 53: Chuyến thăm hữu nghị chính thức đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên cương vị Chủ tịch Ban chấp hành Trung ương Đảng lao động Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào (…).
a/ Tháng 6/1955
b/ Tháng 2/1950
c/ Tháng 10/1954
d/ Tháng 8/1960
Câu 54: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” là phương châm chỉ đạo quan hệ Việt – Trung trong thời gian tới. Phương châm này do các nhà Lãnh đạo cao nhất của Việt Nam và Trung Quốc đã xác lập vào (…).
a/ Tháng 1/1998
b/ Tháng 7/1998
c/ Tháng 2/1999
d/ Tháng 5/1999
Câu 55: Liệt sĩ Cách mạng Việt Nam Phạm Hồng Thái đã anh dũng hy sinh ở Trung Quốc, hiện nay mộ của ông được đặt tại (…).
a/ Nam Ninh
b/ Quế Lâm
c/ Côn Minh
d/ Quảng Châu
Tuần du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Nhà hàng Quê Hương mở rộng các loại hình dịch vụ

Nhà hàng Quê Hương – Công ty du lịch Hương Giang – thành phố Huế thường xuyên có trên 70 món ăn dân gian trong tổng số 1.300 món ăn Huế phục vụ du khách. Nhà hàng có thể đón tiếp khoảng 500 khách ăn cùng một lúc, vừa ăn vừa ngắm trăng, nghe ca Huế hoặc tự đàn hát, thổi sáo, ngâm thơ. Năm 1999, nhà hàng phấn đấu đạt 1,5 tỷ đồng doanh thu, tăng 10% so với năm trước, đảm bảo việc làm cho 30 lao động đạt thu nhập bình quân 600.000 đồng/người/tháng.
Đà Nẵng: 90 triệu đồng trùng tu thành Điện Hải
Theo tin từ Sở Văn hóa – TT thành phố Đà Nẵng, năm nay Bộ VH -TT tiếp tục đầu tư 90 triệu đồng để trung tu giai đoạn 2 cho Thành Điện Hải gồm các hạng mục: nạo vét lòng hào, trùng tu tường thành nhằm mục tiêu giữ gìn nguyên trạng di tích này.
Bộ VH -TT còn đầu tư cho Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh 45 triệu đồng để dàn dựng và quay thành phim tư liệu vở tuồng cổ “Sơn Hậu”.
Đây là 2 công trình văn hóa đã được đưa vào chương trình hành động du lịch năm 2000 của thành phố Đà Nẵng mà BCĐ Du lịch thành phố vừa mới thông qua.
Quảng Ngãi: quy hoạch chi tiết 2 khu du lịch Mỹ Khê và Sa Huỳnh
Sở Thương mại – Du lịch Quảng Ngãi phối hợp với Viện Nghiên cứu phát triển du lịch (Tổng cục Du lịch) tiến hành qui hoạch chi tiết, lập dự án đầu tư 2 khu du lịch Mỹ Khê Và Sa Huỳnh. Theo đó, khu du lịch Mỹ Khê có diện tích 150 ha được xây dựng thành khu du lịch có hệ thống vui chơi, dịch vụ nhà nghỉ dưỡng, tắm biển…, khu du lịch Sa Huỳnh rộng 40ha được xây dựng thành khu du lịch thể thao biển….Để phục vụ việc ăn nghỉ của khách du lịch, thời gian qua, tỉnh Quảng Ngãi cũng đã xúc tiến việc xây dựng và hoàn chỉnh các khách sạn Mỹ Trà, Sông trà và khách sạn Sao Mai đạt tiêu chuẩn 3 sao.
Du lịch bằng xe đạp – tour mới dành cho khách Trung Quốc
Nhằm tăng cường mối quan hệ hợp tác du lịch giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam, khuyến khích khách du lịch Trung Quốc sang tham quan Việt Nam, vừa qua Cục Du lịch Nam Ninh (Trung Quốc) đã phối hợp với Tổng Cục Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh thông qua Công ty lữ hành xã Hoa Việt (Bằng Tường, Trung Quốc) tổ chức tour du lịch bằng xe đạp vào Việt Nam cho khách Trung Quốc.
Tham gia chương gồm 64 khách, trong đó có 34 khách du lịch thuần túy và 30 khách quan chức (Cục trưởng và Cục phó Cục Du lịch Thành phố Nam inh, Tổng Giám đốc công ty du lịch Quốc tế Hoa Việt) và các phóng viên báo chí Trung Quốc.Theo giám đốc Saigon Tourist cho biết, đây là một tour nhỏ, lượng khách không đông nhưng Cục Du lịch Nam Ninh tổ chức rất rầm rộ để tuyên truyền quảng cáo cho một hình thức du lịch mới – du lịch bằng xe đạp cho khách Trung Quốc sang Việt Nam.
Theo chương trình, từ 27/6 đến 29/6/1999 khách đã đi xe đạp ở 3 chặng đường: Từ cửa khẩu Hữu Nghị Quan về Lạng Sơn, 18km; từ thị xã Bắc Ninh về Hà Nội và cuối cùng đạp xe dạo quanh phố phường Hà Nội.
Hợp tác du lịch giữa Thanh Hóa với tỉnh Hủa Phăn (Lào)
Vừa qua, đoàn đại biểu Du lịch tỉnh Thanh Hóa đã sang thăm và làm việc tại tỉnh Hủa Phăn (CHDCND Lào). Tại buổi gặp gỡ, ngành Du lịch 2 tỉnh đã bàn một số biện pháp hợp tác để cùng phát triển, khai thác có hiệu quả, tiềm năng lợi thế về Du lịch của mình; cùng nhau nhất trí báo cáo và xin ý kiến Chính phủ, Tổng Cục Du lịch và chính quyền 2 tỉnh sớm đưa cửa khẩu Na Mèo trở thành cửa khẩu quốc tế, tạo thuận lợi cho công dân 2 nước và du khách từ nước thứ 3 qua lại, đi du lịch 2 nước cũng như 2 tỉnh Thanh Hóa và Hủa Phăn
Công ty Thương mại – Du lịch tỉnh Hủa Phăn đề nghị Thanh Hóa đào tạo giúp 15 đến 20 cán bộ quản lý, nhân viên chuyên ngành Du lịch trong những năm tới. Sau cuộc gặp, lãnh đạo Công ty Du lịch Thanh Hóa và Công ty Du lịch sinh thái Sầm Nưa đã trao đổi để tiến tới ký kết các hợp đồng kinh tế về du lịch.
Ninh Thuận: mở tour phục vụ học sinh đi thi đại học
Để khắc phục tình trạng khó khăn trong đi lại, ăn ở của học sinh vào mùa thi tuyển sinh đại học, Công ty du lịch Ninh Thuận đã thống nhất với sở Giáo dục – Đào tạo mở nhiều tuyến xe đứa đón phục vụ học sinh đi thi đại học ở một số trường trong nước. Công ty sẽ đảm bảo đưa đón thí sinh đi thi, bao ăn, ở tại chỗ với giá hợp lý. Đi Đà Lạt bình quân 270.000đ/ học sinh, thành phố Hồ Chí Minh là 300.00đ/học sinh…Việc làm này của Công ty được ngành Giáo dục và nhiều phụ huynh đồng tình ủng hộ
Vân Thiêng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Một năm, trở lại Bà Nà_Phần 2

Còn một hướng nữa cho những người ưa thích khám phá lịch sử và những gì thuộc về quá khứ, đó là đến thăm các biệt thự cũ của Pháp rải rác khắp các ngọn đồi của Bà Nà. Người ta thống kê có khoảng 100 biệt thự cũ của Pháp đã hoang phế và đổ nát qua thời gian và các cuộc chiến tranh. Ngày nay, công trình phát tuyến và chỉnh trang cảnh quan do các cơ quan chức năng tiến hành đã hoàn thành giai đoạn I, hiện đã có đường đi bộ dẫn tới hàng chục biệt thự như vậy. Tại các biệt thự người ta đã tiến hành phát quang lau lách, cỏ dại, chỉ còn để lại những cây địa lan với những nhành hoa tím nên thơ. Hình ảnh tương phản giữa những phế tích còn lại của các biệt thự với những thành địa lan tím như muốn nói lên sự hồi sinh mạnh mẽ của một vùng đất huyền thoại.
Sau khi lên tới đỉnh, chúng tôi tiếp tục đi vào con đường xuyên qua rừng, dẫn tới các điểm tham quan mới được phát hiện, đó là Suối Nai và thác Cầu Vòng. Thả bộ trong rừng, giữa những cánh rừng nguyên sơ và trong bầu không khí mát lạnh, trong lành, dù đi bộ đã lâu nhưng không ai cảm thấy mệt. Gây ấn tượng nhất là một chiếc “cầu treo” ghép lại bằng những thân cây nhỏ và đặc biệt là nó được treo lên một thân cây lớn nằm ngang bằng những sợi mây óng ả. Nó làm chúng ta nhớ đến con đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử với những chiếc cầu treo làm bằng những thân cây, những con đường xuyên qua rừng. Tới thác Cầu Vòng, chúng tôi mới hiểu vì sao lại có tên gọi như vậy. Ánh nắng mặt trời sau khi xuyên qua những tán lá cây, phản chiếu qua những vầng hơi nước bốc lên từ những dòng nước nhỏ chảy từ một phiến đá to xuống dưới độ cao khoảng chục mét đã tạo nên một chiếc cầu vồng lung linh, huyền ảo. Người ta thường nói cầu vòng là biểu tượng của sự may mắn và hạnh phúc, hy vọng rằng may mắn và hạnh phúc cũng sẽ đến với những người đã từng đặt chân đến nơi đây.
Thấm mệt vì quãng đường đi bộ hơn 1 tiếng đồng hồ, chúng tôi trở lại với khu vực nhà hang và những nhà nghỉ lớn có mái cao vút màu đỏ của Công ty Du lịch Dịch vụ thành phố Đà Nẵng. Những người dẫn đường nói rằng còn nhiều tuyến đường đi bộ nữa dẫn tới một số địa điểm tham quan đã và sẽ được hoàn thiện trong thời gian gần đây. Mỗi con đường có vẻ đẹp riêng, mỗi điểm nhất định trên đường có cách bài trí khác nhau, địa thế đa dạng và cỏ cây màu sắc phong phú. Tôi nhớ lời của bác sĩ người Pháp Sallet trong thời kỳ hưng thịnh của Bà Nà thời Pháp “… Những cuộc du ngoạn chiếm một vai trò to lớn trong đời sống ở Bà Nà, chúng có ý nghĩa to lớn đối với sức khỏe cộng với một khí hậu mát mẻ… Bà Nà chỉ nhờ cậy vào thiên nhiên nên nó tồn tại và thiên nhiên đó đem lại lợi ích cho mọi người”.
Và điều quan trọng nhất là Bà Nà không bao giờ nhàm chán, mỗi ngày Bà Nà càng thay đổi, càng trở nên mới lạ hơn dưới mắt du khách. Đến với Bà Nà chúng ta ngày càng khám phá được những điều thú vị, không khi nào thấy rằng đã đủ. Chính điều này đã tạo nên sức thu hút kỳ diệu của khu du lịch độc đáo – hòn ngọc giữa lòng thành phố Đà Nẵng.
Ngô Thị Hoàng Anh – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Một năm, trở lại Bà Nà_Phần 1

Trở lại Bà Nà lần này, chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng trước sự thay đổi nhanh chóng và kỳ diệu của một khu du lịch mới được hồi sinh và phát triển. Cách đây 1 năm, đúng ngày 1-9-1998, ngày đón khách đầu tiên của khu du lịch Bà Nà sau hơn nửa thế kỷ ngủ yên, tôi đã được đặt chân đến Bà Nà. Khi đó, con đường công vụ lên Bà Nà vừa mới được hoàn thành về cơ bản, đường đến với Bà Nà còn khó khăn, vất vả và cả nguy hiểm nữa. Thế nhưng Bà Nà vẫn có sức quyến rũ lạ kỳ đối với người ưa thích khám phá những điều mới lạ từ thiên nhiên.
Lần này, từ trung tâm thành phố Đà Nẵng lên đến đỉnh Bà Nà, nhìn đồng hồ chúng tôi thấy chỉ hết khoảng 1 tiếng rưỡi. Từ khi hoàn thành việc rải nhựa con đường từ Hòa Khánh đến cầu An Lợi và hoàn thiện con đường từ cầu An Lợi đến đỉnh Bà Nà thì thời gian đi từ trung tâm Đà Nẵng đến đỉnh Bà Nà rút lại chỉ bằng nửa so với trước đây. Thật hiếm có một khu du lịch nghỉ mát nào lại gần thành phố trung tâm của khu vực đến vậy.
Bước ra khỏi xe, chúng tôi ghé thăm biệt thự Vọng Nguyệt, đây là một trong 2 biệt thự được khôi phục lại từ các biệt thự cũ xây dựng từ thời Pháp thuộc. Thời tiết mát lạnh. Nhìn nhiệt kế chúng tôi chỉ 22oC. Một khí hậu lý tưởng, trong khi ở thành phố Đà Nẵng mùa này nhiệt độ thường là 34, 35oC. Không gian tĩnh mịch lạ thường, chỉ còn nghe tiếng gió cuốn lá cây xào xạc và tiếng chim hót văng vẳng từ xa đưa lại.
Rời Vọng Nguyệt, chúng tôi tiếp tục hành trình tới bãi đậu xe trên đỉnh Bà Nà. Một năm về trước, từ bãi đậu xe lên đỉnh chỉ có thể theo một con đường với những bậc tam cấp xây bằng đá và xi măng, con đường này cũng dùng để vận chuyển vật liệu xây dựng và nguyên vật liệu khác cung cấp cho nhà hàng và các dịch vụ trên đỉnh. Nhưng lần này, các anh em ở Ban quản lý khu du lịch Bà Nà – Suối Mơ đã dẫn chúng tôi đi bằng một con đường khác đầy hấp dẫn bất ngờ. Đó là con đường đi bộ bắt nguồn từ phía tay phải của bãi đậu xe, lượn ngoằn nghèo trong rừng với những bậc tam cấp làm bằng những thân cây nhỏ, đường đi xuyên qua những khu rừng, có đoạn dẫn đến những biệt thự cũ, đoạn dẫn đến những thung lũng nhỏ, những dòng suối mát lạnh. Qua cầu Debay (để ghi nhớ công ơn viên đại uý người Pháp – người đã có công tìm ra Bà Nà gần một thế kỷ trước) dẫn qua con suối nhỏ, chúng tôi xuống 1 thung lũng với những tảng đá đủ loại to nhỏ đầy rêu và dương xỉ bám quanh, các loại cây leo lạ mắt có những chiếc lá to và những chùm quả hình dáng lạ lùng. Đặc biệt dọc đường đi và tại các điểm nghỉ chân, đã dựng lên những chiếc ghế bằng mây dọc đường, tất cả đều làm từ những vật liệu của thiên nhiên, làm chúng tôi nhớ đến xu hướng khai thác du lịch sinh thái hiện nay – đến với thiên nhiên, trái ngược hẳn với những bê-tông, sắt thép, hình khối ồn ào quanh ta mỗi ngày.
Ngô Thị Hoàng Anh – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Cần có đội ngũ bảo vệ được đào tạo nghiệp vụ bảo vệ

Cung cấp tài liệu về ngành du lịch các nước Asean và các nước trên thế giới cho hai đơn vị báo chí của ngành là Báo Tuần Du lịch và tạp chí Du lịch Việt Nam để giáo dục toàn dân rộng rãi. Đồng thời Tổng cục du lịch nên tìm tài trợ để tổ chức với đài truyền hình chương trình những người bạn hướng dẫn du lịch… để họ nói rõ những điều tốt, chưa tốt liên quan đến ngành du lịch nước nhà.
Ông Nguyễn Minh Lợi (giám đốc trung tâm dịch vụ bảo vệ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đông Á): “Cần có đội ngũ bảo vệ được đào tạo nghiệp vụ bảo vệ và nghiệp vụ du lịch…”. Các danh lam thắng cảnh di tích lịch sử của nước ta nằm hầu hết trên địa bàn các tỉnh, thành phố toàn quốc, vì thế việc làm lành mạnh hóa môi trường du lịch rất quan trọng. Để bảo đảm an toàn bình yên cho du khách ở các điểm du lịch, chúng ta phải quan tâm đến công tác bảo vệ. Song hầu hết nhìn vào khách sạn, nhà hàng, đa số tự lựa chọn người lao động, trong đó có cả người thân quen làng xóm là chính, đây cũng là một sự hạn chế rất là lớn đối với ngành du lịch…Trang phục và trang thiết bị dùng làm công tác bảo vệ không qua nghiệp vụ chuyên ngành bảo vệ và chuyên ngành du lịch. Do vậy không có hiệu quả cao để bảo vệ khách du lịch và tái thu hút khách du lịch đến tham quan. Tất nhiên không thể nói đơn phương cho thiếu sót của công tác bảo vệ gây ra mà còn có nhiều nguyên nhân khách quan khác. Để phát huy điểm mạnh của ngành du lịch, thu hút khách đến nước ta ngày càng đông, chúng ta phải khắc phục những nhược điểm mà ngành du lịch đã tổng kết đánh giá. Về phía công tác bảo vệ di động và cố định tại các điểm bảo vệ nhất thiết phải được đào tạo về nghiệp vụ chuyên ngành công tác bảo vệ và chuyên ngành du lịch, nghi thức lễ tân ngoại giao… Nhân viên bảo vệ các khách sạn nhà hàng do Nhà nước hoặc tư nhân quản lý phải được đào tạo có chứng chỉ, phải được quản lý chặt chẽ theo chức năng của cơ quan chuyên ngành. Các chủ nhà hàng khách sạn cũng được giám sát quản lý khi họ thực hiện đưa đón khách tham quan du lịch…
Ngài Jack Tordoff (Du khách điều phối viên khoa học quốc tịch Anh): … “Đừng để Việt Nam trở thành Thái Lan thứ hai về mặt tệ nạn xã hội…”. Tôi đã từng tới 25 nước trên thế giới, vừa du lịch vừa làm việc. Riêng Việt Nam tôi đi rất nhiều khu du lịch, đặc biệt là các khu bảo tồn thiên nhiên. Điều dễ nhận thấy là ngành du lịch Việt Nam còn non trẻ, chắc chắn sẽ có nhiều mặt phải làm hoàn chỉnh dần. Vấn đề an toàn trật tự ở các điểm du lịch cần phải được quan tâm, tuy với bản thân tôi chưa gặp điều đáng tiếc xảy ra. Giao thông là một điều đáng nói. Ở Việt Nam có nhiều đoạn đường xấu, rích rắc, nguy hiểm làm cho du khách nhiều phen hú hồn hoặc lúng túng. Trong khi các thông tin chỉ dẫn du lịch chưa đầy đủ, chưa khoa học.
Phạm Minh Hương-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực

Theo đánh giá của Tổng cục Du lịch trong năm 1999 Công ty khách sạn du lịch Kim Liên nổi lên như một đơn vị tiêu biểu, dẫn đầu trong số các doanh nghiệp về tính hiệu quả, chấp hành quy chế và chế độ chính sách của nhà nước. Mấy năm trước đây khách sạn Kim Liên một đơn vị chủ lực trong phục vụ chuyên gia quốc tế, tồn tại như một gánh nặng, hoạt động cầm chừng, cơ sở còn mang đậm dấu ấn thời bao cấp. Nhất là khi có chính sách đổi mới, tiếp cận với cơ chế thị trường, khâu nào cũng bấp bênh đè nặng lên tư duy của người lãnh đạo. Bằng cách nào đứng vững trong cơ chế cạnh tranh với một cơ sở vật chất đã gần như xuống cấp và đã hết niên hạn khấu hao! Làm thế nào để giảm bớt sự mất cân đối giữa sự thiếu hụt trầm trọng các khu vui chơi giải trí mà diện tích mặt bằng sử dụng lại quá rộng, quá lãng phí? Điều quan trọng hơn là phải bằng cách nào duy trì được bộ máy nhân sự gần 500 người một thời đã được tuyển chọn phục vụ khách quốc tế, cả cuộc đời họ đã gắn bó với doanh nghiệp. Giờ đây lúc nào họ cũng lo không có việc làm những cán bộ chưa đủ tuổi sợ về hưu?.. Để trả lời các câu hỏi này, công ty khách sạn Du lịch Kim Liên quyết định sắp xếp lại các khâu phục vụ, nâng cấp khách sạn, mở mạng dịch vụ chấn chỉnh bộ máy nhằm khởi sắc doanh nghiệp. Năm 1998, mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực tiếp tục gây cho ngành không ít khó khăn nhất là đối với nguồn khách quốc tế, nhưng hệ số cử dụng buồng phòng của khách sạn thuộc công ty vẫn ở con số tăng mà nhiều nơi khác không thể có được. Khách quốc tế đạt 67%, khách nội địa đạt 85%, tổng doanh thu tăng 36% tổng nộp lợi nhuận vào ngân sách Nhà nước tăng 35%. Với doanh số là 7 tỷ đồng, một con số chưa phải là lớn nhưng thật đáng khích lệ đối với một doanh nghiệp vừa bước ra khỏi sự trì trệ để vươn lên tìm chỗ đứng của mình trong ngành kinh tế du lịch. Việc kinh doanh khách sạn trong thời điểm hiện nay thường gặp nhiều khó khăn do thiếu nguồn khách, lại phải cạnh tranh với kiểu làm ăn chụp giật, trốn lậu thuế… ở một số đơn vị. Trong bối cảnh đó, công ty khách sạn du lịch Kim Liên đã chọn cho mình hướng đi riêng là bám sát nhu cầu của khách để phục vụ. Hàng loạt công trình dịch vụ, vui chơi giải trí được đầu tư nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của các thượng đế thời mở cửa như bể bơi, sân tennis, vật lý trị liệu, tắm hơi, mát xa… mà ta hoàn toàn có thể đáp ứng được. Chỉ riêng việc hợp lý hóa diện tích mặt bằng khách sạn tăng thêm phòng ăn, có 4 ngày đến 5 đám cưới đặt kín các phòng tiệc, đủ thấy công tác tiếp thị không chỉ hoàn hảo mà còn biết khai thác nghệ thuật kinh doanh. Có nhiều khách, đoàn khách ở thành phố Hồ Chí Minh ra công tác Hà Nội đã chọn khách sạn Kim Liên là nơi ăn nghỉ cố định. Đơn giản vì họ tìm thấy ở đây mỗi loại hình dịch vụ đều có sự bắt nhịp với thị trường trong và nước, từ sự bài trí, tuyên truyền đến sự ân cần làm vừa lòng khách. Khách lưu trú luôn hài lòng như ở nhà mình, tài sản được bảo vệ, phương tiện được an toàn, sinh hoạt hợp với khả năng thanh toán của từng đối tượng. Ngoài kinh doanh hiệu quả, công ty còn có nhiều hoạt động đóng góp cho các phong trào, quỹ học sinh nghèo vượt khó, ủng hợp đồng bào lũ lụt… được xã hội ghi nhận… Để có được những ghi nhận đó, đương nhiên có công sức của cả một tập thể cán bộ công nhân viên, nhưng vai trò của giám đốc là rất quan trọng. Nếu chỉ có tri thức không thôi thì chưa thể đưa doanh nghiệp trở thành một điểm sáng mà người giám đốc phải có khả năng quy tụ đối với tập thể quanh mình, có tấm lòng yêu nghề, say mê với công việc và phải có cái tâm trong sáng, sàng lọc những ý kiến đóng góp, loại dần những khuyết tật. Công ty Khách sạn Du lịch Kim Liên đã có được các yếu tố này. Vì thế bông sen vàng mãi tỏa hương.
Trần Thiên Hương-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Đêm đầu tiên của Festival Huế 2000 đã thành công

Nghìn nhà đua tiếng. Các ngả đường đều đầy ắp những dòng người nhưng không hề có sự náo loạn của xe cộ, tất cả mọi người như muốn gửi gắm tâm hồn mình cùng phố phường và nhận những xúc cảm thật đặc biệt, thật mới mẻ của đêm khai mạc. Theo thông báo của các khách sạn trên địa bàn thành phố Huế thì đến cuối tháng 3 các khách sạn đã kín phòng cho thuê. Một điều ai cũng nhận thấy Festival Huế 2000 là sự kiện có một không hai giữa hai nền văn hóa Việt – Pháp, Huế tháng 4 này không chỉ là mục tiêu cho du khách trong nước mà còn là của du khách nước ngoài. Theo sự tính toán của Ban tổ chức trong 12 ngày diễn ra lễ hội, thành phố Huế sẽ đón khoảng 20 nghìn du khách, trong đó khách quốc tế chiếm 50%, lượng khách mời có thêm khoảng gần 1000 các nghệ sĩ Pháp và Việt Nam. Để Festival Huế 2000 đến được với đông đảo công chúng, từ tháng 10 năm 1998, Chính phủ Việt Nam đã cho phép ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Đại sứ Pháp tại Việt Nam làm kế hoạch tổ chức lễ hội Huế năm 2000. Các tập đoàn du lịch Pháp cũng rầm rộ làm công tác tiếp thị sang thị trường châu u. Nhanh nhạy hơn cả là tập đoàn Havas đã triển khai xây dựng 4 tour du lịch với chủ đề: Việt Nam và Festival Huế 2000 tuyên truyền trong suốt năm 1999. Chính vì vậy, những ngày qua không riêng gì du khách nội địa mà khách quốc tế đều đổ dồn về Huế. Cả thành phố có 73 khách sạn lớn nhỏ huy động tối đa chỉ đạt 5 nghìn giường, từ cuối tháng 3 đã được đặt kín chỗ. Các phòng đạt tiêu chuẩn của 3 khách sạn lớn: Hương Giang, Century, Sài Gòn Morin đã quá tải. Để đảm bảo cho khách có thể tá tục trong các ngày hội, Ban Tổ chức đã phải huy động thêm hơn 500 nhà dân sửa sang để có thể đón khách. Giá nghỉ ở nhà dân có phần dễ chịu hơn 80 đến 100 nghìn đồng một đêm. Một điều hấp dẫn hơn cả là trong những ngày lễ hội, Ủy ban nhân dân tỉnh đã cho phép các ngư dân dọc bờ sông Hương được kinh doanh lưu trú. Hai đơn vị được chọn làm đối tác mở loại hình dịch vụ mới này là công ty du lịch khách sạn Hương Giang và khách sạn Century. Theo anh Lê Văn Minh cán bộ quản lý nhà thuyền Hương Giang cho biết: Trong những ngày qua bộ phận nhà thuyền kinh doanh rất hiệu quả và du khách thực sự thích thú với dịch vụ mới này. Để đầu tư nhà thuyền, Công ty chủ động thuê thuyền của ngư dân với giá là 100 nghìn đồng một ngày một thuyền. Công ty nâng cấp thuyền, trang bị phòng ngủ, phòng khách lịch sự đạt tiêu chuẩn, đầu tư thiết bị vệ sinh khép kín, tự hoại chống ô nhiễm môi trường ngay trên thuyền. Mỗi gian du khách ở có diện tích là 16 mét vuông nên có thể đảm bảo từ 2 đến 4 du khách sinh hoạt với giá từ 200 nghìn đến 300 nghìn đồng 1 thuyền. Theo giám đốc công ty du lịch khách sạn Hương Giang cho biết: mô hình mới này đã thu hút khách và hiện nay công ty tiếp tục đầu tư mở rộng dịch vụ này. Theo chân đoàn khảo sát của Tổng công ty du lịch và lãnh đạo tỉnh chúng tôi còn biết Công ty du lịch khách sạn Hương Giang còn mở thêm 1 làng Festival theo mô hình nhà nghỉ lưu động có sức chứa từ 150 đến 200 du khách ăn nghỉ. Ngay ngày đầu tiên khai trương ngày 7 tháng 4 năm 2000 công ty du thu hút khách về nghỉ. Có thể nói đảm bảo cho chỗ ăn nghỉ của du khách, những ngày qua ngành du lịch Huế đã thực sự năng động và cố gắng. Các điểm từ nhà dân đến ký túc xã, trường học, nhà khách của các cơ quan ban hành trong tỉnh đều được tận dụng tối đa. Các khách sạn vẫn giữ nguyên giá phòng, các điểm khác giá từ 100 đến 200 ngàn đồng 1 đêm là du khách có thể yên tâm sống với Huế trong những ngày hội. Những ngày đầu tiên của Festival đã qua. Với một lễ hội lớn và mang đậm nét văn hóa của đất nước cũng như con người Việt Nam. Đây được xem như là một ngày hội văn hóa thật sự của dân tộc Việt Nam. Thiện cảm đầu tiên của du khách cảm nhận là tấm lòng của người dân xứ Huế. Dù họ đã phải chịu nhiều thiệt thòi sau cơn đại hồng thủy tháng 11 năm 1999 nhưng với 50 ngày tập trung khôi phục thành phố giờ đây họ tự hào và đầy kiêu hãnh là những người con của đất cố đô một di sản văn hóa thế giới. Festival Huế sẽ còn diễn ra đến ngày 19 tháng 4 năm 2000.
Nguyễn Hoàng – Nguyễn Sỹ Hào-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Khi Bản Lác làm du lịch

Nằm giữa một vùng đồng bằng nhỏ hẹp được bao bọc xung quanh là núi rừng, Bản Lác – Mai Châu – Hòa Bình trở thành một địa chỉ du lịch hấp dẫn. Những năm gần đây, lượng khách đến thăm Bản Lác ngày càng tăng lên. Đến hết quý I năm 2000, Bản Lác đã đón hơn 100 nghìn lượt khách, trong đó có đến 2 nghìn lượt khách quốc tế. Nhờ địa hình thuận lợi, đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa cùng với những cải tiến trong cách làm, cách nghĩ mà đời sống dân bản ngày càng được nâng cao. Toàn bản có 94 hộ, trong đó có 42 hộ có tivi, 13 hộ có xe máy, 11 hộ có điện thoại. Thu nhập bình quân là 1,7 triệu đồng một người cho một năm. Toàn bộ trẻ em ở tuổi đi học đều được đến trường. Tỷ lệ gia tăng dân số ngày càng giảm, số gia đình sinh con thứ ba rất ít. An ninh bản làng được đảm bảo. Thực hiện nếp sống mới trong cưới hỏi, ma chay được phổ biến tới từng người dân. Đó là những dấu hiệu đáng mừng của Bản Lác. Toàn bản chỉ có 4 hộ đói nghèo do đông con hoặc bệnh tật. Tìm gặp trưởng bản, ông vui vẻ cho biết: Từ khi có chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, đời sống của bà con ngày càng ổn định và khấm khá. Đặc biệt từ năm 1993 trở lại đây, nhờ biết kinh doanh du lịch mà đời sống của một số hộ trong bản rất phát đạt. giá cho thuê phòng qua đêm ở đây từ 5 đến 10 nghìn đối với khách nội địa và từ 40 đến 50 nghìn đồng đối với mỗi khách quốc tế. So với đời sống chung của dân bản thì những người kinh doanh du lịch có mức sống và thu nhập cao hơn. Đằng sau nụ cưới này là nét mặt trầm ngâm của trưởng bản, ông tâm sự nói như vậy nhưng vẫn còn nhiều bất cập khó khăn cần tháo gỡ lắm. Khó khăn lớn nhất hiện nay là các cơ sở không được hỗ trợ về kinh phí và nghiệp vụ để kinh doanh. 14 hộ làm du lịch trong bản vẫn mang danh nghĩa là nông dân nên chỉ được vay vốn tối đa là 5 triệu hộ. Tổ chức quản lý du lịch của bản cũng chưa chặt chẽ. Hiện trưởng bản cũng kiêm luôn hội trưởng hội những người làm du lịch. Hoạt động của hội mang tính chất tự biên, tự diễn nên chưa phát huy hết hiệu quả của công việc. Khó khăn thứ hai là mức thuế quá cao và còn nhiều rắc rối. Chỉ 14 hộ kinh doanh mà có tới 6 mức thuế, mức cao nhất là 1.060 nghìn đồng và mức thấp nhất là 75 nghìn đồng cho một tháng. Lượng khách ở đây mang tính thời vụ hàng năm khách tập trung chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 11, còn lại chỉ lẻ tẻ vẫn phải chịu mức thuế trung bình cả năm là chưa hợp lý. Trên cơ sở kiến nghị của các hộ, vừa qua cơ quan thuế của tỉnh có quyết định cho các hộ ngừng kinh doanh vào những tháng ít khách để khỏi đóng thuế. Đây là một giải pháp tạm thời nhưng chưa thiết thực.
Nguyễn Thế Sơn -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.